Công đồng Kẻ Sặt năm 1900.

 

(Trích trong Synodo Tunquinensê. Công đồng hội lần thứ nhất. Miền Bắc Kỳ (Đàng Ngoài trong nước Annam), năm 1900. In tại Kẻ Sở, 1906, trang 62-66).

 

« Trong các địa phận miền Bắc Kỳ này có hai thứ ḍng nữ người bản cuốc các đấng đă lập hầu như từ khi mới giảng đạo, một là ḍng Chị em mến câu rút, hai là ḍng Ba ông thánh Duminhgô, th́ phải chuyên cần chịu khó cho hai ḍng ấy được bền đỗ, được mở thêm rộng và được tấn tới mọi đàng.

Các chị em ở chung vuối nhau từng nhà mụ, mà dù chẳng khấn mặc ḷng, th́ cũng giữ ba điều cần nhất trong ḍng, là nhân đức vâng lời, nhân đức khó khăn và nhân đức sạch sẽ.

Hai ḍng ấy đă có lề luật mẫu mực riêng đă chỉ cho ḿnh phải cứ ; lại ḿnh ở xứ nào thuộc về quyền thày cả coi sóc xứ ấy như các bổn đạo thường nhận vậy. Toà công đồng chẳng có ư đổi sự ǵ về các điều căn nguyên luật phép hai ḍng ấy, song v́ muốn dẫn một mực chung cho cả hai ḍng theo một lối như nhau, th́ đă định những điều như sau này :

 

1. Về sự vào nhà ḍng nhà mụ, cứ sự thường th́ không được nhận người nào chưa đến mười lăm tuổi hay là đă quá ba mươi tuổi ; những người đă có chồng, dù chồng ḿnh đă tha phép rơ ràng, th́ chẳng được nhận vào ; về phần người goá chồng hay là người bổn đạo mới cũng không được nhận, trừ một khi đấng Vítvồ ban phép tỏ tường.

2. Trước khi nhận những kẻ xin vào nhà mụ, th́ phải tra cho kĩ tính nết cách ăn ở, sức khoẻ phần xác, tài năng là thể nào, lại có dấu Đức Chúa Lời gọi thật hay là chăng. Nhận vào trong nhà rồi, phải thử cho ư tứ một năm hay là hai năm đă, rồi mới được biên tên vào sổ nhà mụ.

Về việc thử làm vậy phải chọn lấy một người trong những chị em ở nhà mụ đă lâu hơn và có phần khôn ngoan đạo đức hơn, để người ấy xem sóc kẻ mới vào và dạy dỗ tập tành chẳng những là về những việc ngoài phải làm, mà lại về những việc lành phúc đức xứng đáng bậc ḿnh. Bao giờ đă thử xong th́ các chị em sẽ bỏ thẻ cách kín, mà có được quá nửa phần chị em thuận nhận và có lời thày cả missionariô ưng nữa, th́ mới được nhận vào sổ chị em.

Việc bầu bà mụ theo phép nhà, th́ cũng cần phải có quá nửa phần chị em thuận bầu và thày cả missionariô ưng cho mới thành.

3. Trong nhà có sức nuôi bao nhiêu và có thể lo đủ mọi sự cần cho bao nhiêu người, th́ hăy nhận bấy nhiêu mà thôi, đừng nhận nhiều người quá, kẻo chị em phải đi dông dài kiếm ăn mà mắc sự cheo leo nhiều đàng. Và khi có loại người nào ra khỏi nhà mụ, th́ phải có phép thày cả missionariô mới được.

4. Các chị em trong nhà mụ nhà ḍng sẽ giữ mọi sự chung và sẽ để mọi của chung cứ như phép riêng nhà mụ nhà ḍng dạy, song phải nhớ rằng mỗi nhà đứng riêng cùng làm chủ các của thuộc về nhà ấy, chẳng có việc ǵ chung vuối các nhà khác, trừ một sự cầu nguyện cho chị em đă qua đời. Dù thế mặc ḷng, có một điều đáng ước ao, là nếu có nhà mụ vất vả nghèo túng quá th́ các nhà khác chịu khó đỡ đần phù giúp.

5. Ta khuyên các chị em năng dọn ḿnh xưng tội ; và lại sẽ lấy mỗi tháng một ngày cho được lo việc cấm pḥng riêng và năm nào cũng sẽ cấm pḥng chung.

6. Chị em phải học tập xem sách chữ nôm annam và chữ nôm latinh, song không được tập vuối người nam, dù là người nhà thày đă nhiều tuổi mặc ḷng cũng  không được, bà mụ sẽ cắt một người chị em nào biết xem những sách ấy để mà dạy chị em bạn.

7. Không ai được vào trong nhà mụ khi chẳng có việc cần và chẳng có phép thày cả missionariô. Cũng một lẽ ấy chính thày cả missionariô và các thày cả khác đừng vào khi không có việc. Gần cổng ngăn phải có một nơi trống trải mà chịu khách ; song chị em phải giữ không ai được ra thăm khách một ḿnh ; bà mụ phải cắt một người bạn ra vuối mới nên.

8. Chẳng bao giờ thày cả hay là người nhà Đức Chúa Lời được phép ăn cơm trong nhà mụ sốt. Lại phải có phép riêng đấng Vítvồ th́ mới được làm lễ trong nhà nguyện nhà mụ.

9. Có lẽ mà ước ao cho các đấng Vítvồ chỉ một cố missionariô khôn ngoan đạo đức xem sóc riêng các nhà mà tùy quyền và tùy mẫu mực đấng Vítvồ sẽ chỉ dẫn cho, mà toà công đồng nghĩ rằng có liệu thể ấy th́ sinh nhiều ơn ích cho các người nhà mụ tấn tới đi đàng nhân đức dần dần, được đủ điều mà làm những việc đă có ư liệu khi lập nhà ḍng nhà mụ : thí dụ dạy dỗ trẻ con v.v.

10 Toà công đồng chẳng muốn đổi sự ǵ trong cách chị em ăn mặc, một dạy phải mặc áo mùi thâm hay là mùi nâu khiêm nhường đơn sơ chẳng pha sự ǵ điệu dáng phần đời.

11. Chẳng ai được ra khỏi nhà mụ khi chẳng có lẽ phải và chẳng có phép bà mụ cho từng lần ; vả lại bà mụ phải cắt một người chị em khác đi vuối, mà dù lúc đi đàng, dù khi đến nơi nào, th́ không được ĺa bỏ người bạn ấy sốt. Hễ ai ra khỏi nhà th́ bà mụ sẽ hẹn, sẽ chỉ giờ nào ḿnh phải về.

Đến tối chẳng ai được ra khỏi nhà mụ nữa, dù muốn đi đọc kinh vuối bổn đạo trong nhà thờ ; dù muốn đi xưng tội cũng vậy, trừ khi trong nhà thờ có làm lễ phép riêng, thí dụ chầu Ḿnh thánh, th́ mới được ra, song những ngày ấy chị em phải ra và phải về vuối nhau làm một.

Thày cả sẽ chỉ một nơi riêng cho chị em nhà mụ trong nhà thờ. 

12. Cho khỏi chia trí nhiều đàng và cho khỏi nhiều sự rầy rà khó ḷng, có điều này đáng được ước ao, là chị em thôi đừng cấy lấy ruộng nương, nhất là những ruộng xa nhà mụ, song ta c̣n làm thinh cho chị em làm lấy những ruộng không cách xa nhà mụ hơn một giờ đồng hồ, miễn là không trọ ngoài nhà mụ ban đêm, dù v́ lẽ nào lẽ nào cũng vậy. Ví bằng có ruộng khác xa hơn th́ phải phát canh cho bổn đạo.

Ta khuyên chị em hăy tập hăy làm những việc xứng hợp đấng bậc ḿnh hơn, thí dụ : đan phên đan chiếu, dệt vải, chăn tằm, bắt tràng hạt, may áo Đức Bà hay là làm những đồ quen dùng trong nhà thờ : làm bấy nhiêu việc ấy th́ cũng đủ mà nuôi ḿnh, nhất là khi các đấng giữ việc trong các địa phận có ư mua ở nơi nhà mụ (cứ giá chợ) cả vải phát cho người nhà thày nhà tràng, cả chiếu phên cùng những đồ khác như vậy.

13. Mỗi năm bà mụ phải làm sổ tiêu sổ được trong nhà ḿnh, cùng nhờ cố hay là cụ coi sóc nhà ḿnh gửi nộp đấng Vítvồ.

14. Khi có thể liệu được th́ sẽ giao cho chị em nhà mụ nhận việc coi sóc nhà tiểu nhi và nhà thương đă mở cho người bản cuốc, cùng việc dạy kinh bổn cho trẻ nữ và cho người đàn bà ; song le có khi nào sai ra ngoài dạy kinh bổn ở nơi bổn đạo mới hay là bổn đạo cũ chẳng ḱ, phải chọn những chị em đă có tuổi, và phải sai ít là hai người đi vuối nhau, rồi tuần lễ nào đến ngày lễ cả những kẻ ấy phải về nhà mụ, phần th́ cho được xem lễ và xưng tội chịu lễ, phần th́ cho được tŕnh lại các việc vuối bà mụ. Hoặc nhà mụ xa lắm th́ phải đến nơi thày cả bản xứ làm lễ.

Về chị em sai đi t́m rửa tội trẻ ngoại đạo ŕnh sinh th́, phải cắt người đă đến bốn mươi tuổi trở lên và là người chắc chắn, đă tập các nhân đức lâu năm.

Khi chị em ở ngoài nhà mụ ít lâu th́ buộc phải chịu khó giữ các điều trong phép nhà mụ có thể giữa được tùy nơi tùy th́. »

< >

Lưu ư :

Cuốn sách Phép nhà chị em mến Câu rút Đức Chúa Jêsu, (in lần thứ hai, Kẻ Sở 1907. Imprimatur Kẻ sở die 18 Januarii 1907, + Petrus Maria Ep. Vic. Ap.), cũng in lại 14 điều trên của công đồng Kẻ Sặt (trang 38-42). Tuy nhiên, có sự thay đổi ở điều thứ 14, như sau :

« 14. Về sự chị em đi t́m và rửa tội trẻ ngoại đạo ŕnh sinh th́, phải cắt người đă đến 40 tuổi trở lên là người chắc chắn đă tập các nhân đức lâu năm. Khi chị em ở ngoài nhà mụ ít lâu, th́ buộc phải chịu khó giữa các điều trong phép nhà mụ có thể giữ được tùy nơi tùy th́. Ấy là bấy nhiêu phép chị em phải giữ cho chặt, như các phép nhà vậy, cho được đi đàng nhân đức một ngày một hơn, và cắt bớt sự làm ngăn trở cho chị em nhiều đàng nữa. »

<< >>