Di chúc của Đức cha Lambert de la Motte

 

Vài lời giới thiệu bản « Di Chúc của Đc Lambert de la Motte » mà chúng ta có được trong AMEP, tập 8, trang 150-153 :

1, Đây không phải là bản do chính tay ĐC viết (autographe), nhưng là bản sao lại : ĐC từ trần ngày 15.6.1679 tại Xiêm La. Và tại Paris, khi hay tin này, cha Luc Fermanel đă đem tŕnh Di Chúc của ĐC cho các công chứng viên (hay thư lại, notaires) được biết, theo luật pháp lúc đó. Hôm ấy là ngày 31.10.1680. Và chúng ta có được bản Di Chúc này là từ biên bản của các công chứng viên mà ra.

2, ĐC đă lập Di Chúc của ngài ngày 22.7.1675 tại Xiêm La, như chính ĐC ghi trong bản Di Chúc đó. Khi đọc lại Nhật Kư riêng của ĐC, chúng ta thấy ghi rằng :

- Ngày 22.7.1675, ngài nhận được giấy thông hành của nhà vua Xiêm La ban để có thể đi thăm xứ Đàng Trong như ngài đă xin.

- Ngày 23.7.1675, ngài cùng với cha Mahot rời Juthia đi Băng Cốc để chuẩn bị xuống tàu sang Đàng Trong. Và Ngài viết rơ đă để lại tờ Di Chúc đề ngày hôm trước : « Giám mục Bêrytê đă để lại bản Di Chúc của ngài viết ngày 22 tháng này. » (L’évêque de Bérithe a laissé son testament daté du 22 de ce mois.)

- Tối ngày 24.7.1675, ngài ngủ đêm tại Băng Cốc và trao đổi nhiều công chuyện quan trọng với ĐC Laneau. Ngài viết : « Chúng tôi đă đến nghỉ đêm gần Băng Cốc. Hai giám mục đă thảo luận về nhiều điều quan trọng liên quan tới những việc truyền giáo và nhất là về trường hợp giám mục Bêrytê từ trần hoặc không trở lại từ xứ Đàng Trong. » (On est venu coucher proche de Banko. Les deux évêques ont conféré de plusieurs choses importantes touchant les missions et particulièrement au cas que l’évêque de Bérithe mourût ou ne revînt pas de Cocincine.)

- Sau cùng, ngày 28.7.1675, ĐC xuống tàu rời Băng Cốc lên đường sang xứ Đàng Trong lần thứ hai, (có cha Mahot và cha Vachet tháp tùng).

3, Trong Di Chúc, có một từ mà h́nh như người viết bản sao đă viết sai. Đó là tên giáo xứ : Vocsières. Có lẽ đó là giáo xứ : « La Boissière » chăng ? Đây là 1 chữ cần phải kiểm tra lại cho chính xác.

4, Trong Di Chúc, có ít nữa là 2 từ cần lưu ư để tránh hiểu lầm. Đó là từ « un annuel de Messes » (một năm lễ) và từ « catis » (đồng tiền cũ tại Xiêm La).

- « Un annuel de Messes » : (theo từ điển năm 1694) « Annuel. s. m. Se dit d'une ou de plusieurs Messes que l'on fait dire tous les jours pendant une année pour une personne morte, compter du jour de la mort. »

- « cati » (không có trong từ điển) : là đồng tiền ngày xưa của Xiêm La.

&

 

« Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.

Tôi kư tên dưới đây, giám mục hiệu ṭa Bêrytê, đại diện tông ṭa xứ Đàng Trong và nhiều nơi khác, biết rằng giờ chết thật vô cùng bất định, và nếu người ta chờ đợi để sắp đặt mọi sự vào lúc bệnh hoạn cuối đời, người ta sẽ rất liều ḿnh không thể thực hiện được. Chính trong suy nghĩ đó mà nay, lúc hoàn toàn mạnh khỏe về thể xác và tinh thần, tôi tuyên bố qua bản di chúc này và là ư muốn sau cùng của tôi, những điều sau đây :

Điều Một.- Tôi ao ước sống và chết trong niềm tin của Hội Thánh công giáo, tông truyền và Rôma, và trong sự vâng phục trọn vẹn đối với Đức Thánh Cha.

Điều Hai.- Tôi lưu lại cho nhà thờ của quư cha ḍng tên ở Macao, để chứng tỏ t́nh cảm mà tôi dành cho quư cha, tượng Thánh Giá mà bào đệ của tôi đă trối lại cho tôi mấy ngày trước khi qua đời. 

Điều Ba.- Tôi ước mong rằng tại Pháp, ngay khi được tin tôi qua đời, người ta hăy tổ chức nghi thức cầu hồn và dâng thánh lễ suốt một năm trong giáo xứ Vocsières, thuộc giáo phận Lisieux, nơi mà tôi là vị quư tộc (lănh chúa) và chủ nhân danh dự, để xin cho tôi cũng như cho các thân quyến và bằng hữu của tôi được an nghỉ ngàn thu.

Điều Bốn.- Tôi để lại cho Chủng Viện đă được thiết lập nhằm lo việc hoán cải dân ngoại tại Paris, nơi khu phố Saint-Germain của Paris, tất cả mọi tài sản thuộc về tôi lúc tôi từ trần, thuộc bất kỳ loại nào, từ tiền cho thuê nông trại, của cải thừa kế, các lợi tức thường niên và bổng lộc của chức vụ, các khoản thu nhập, các công trái, v.v., nói chung, tất cả những ǵ tính được là tài sản để lập nên một ngân quỹ dùng vào việc thiết lập và duy tŕ chủng viện của giáo phận tông ṭa Đàng Trong và việc chăm sóc các kẻ ngoại đang học đạo, các tín hữu và các chủng sinh được nuôi dạy trong chủng viện ấy. V́ việc này, tất cả ngân quỹ trên sẽ được sử dụng ngay sau khi việc trao chuyển tiền bạc được thực hiện tại kinh thành Xiêm La để tạo lợi tức cho mục đích ấy.

Điều Năm.- Chớ ǵ ngài Favery Fermanel, giáo sĩ, hay những ai có quyền xử lư và thu nhận những lợi tức của tôi, do sự ủy quyền của tôi, sẽ không thể bị bó buộc bởi những người thừa kế của tôi, hay bởi bất kỳ người nào, phải phúc tŕnh công việc điều hành sản nghiệp của tôi, cũng như việc tha nợ cho ai do họ thực hiện ; nhưng họ chỉ phải tŕnh bày t́nh trạng tổng quát về các khoản thu và chi của họ cho quư Bề Trên và Giám Đốc của Chủng Viện Thừa Sai Hải Ngoại Paris mà thôi. Sau khi khóa sổ sách, những ǵ c̣n lại trong tay họ sẽ được nhập vào với những ǵ c̣n lại cho tôi trong khoản phải trả và phải thu vào lúc tôi qua đời. Tất cả những khoản ấy sẽ được xử dụng chung với nhau vào việc thiết lập chủng viện cho giáo phận tông ṭa Đàng Trong.

Điều Sáu.- Tôi khẩn khoản xin quư Bề Trên và quư Giám Đốc của Chủng Viện Paris hăy thương t́nh vui ḷng thực hiện di chúc này của tôi mà chính tay tôi đă viết và kư tên tại kinh đô Xiêm La, trong giáo xứ thánh Giuse, ngày thứ hai mươi hai tháng bảy năm một ngàn sáu trăm bảy mươi lăm, vào năm thứ năm mươi hai của tuổi đời tôi.

Hơn nữa, tôi cho anh Vinh-Sơn Pinheroa, thông dịch viên tiếng Xiêm La của tôi, v́ sự phục vụ tận t́nh của anh dành cho tôi và tôi hy vọng anh sẽ phục vụ việc truyền giáo của chúng ta, hai quan tiền ca-ti, tương đương với tiền Pháp là ba trăm quan tiền liu.

Kư tên :

Pierre, giám mục Bêrytê, đại diện tông ṭa xứ Đàng Trong. »

 

 

<<>>