chương một

 

Buổi đầu tại Xiêm La :

«Hội ḍng tông đồ»

 

 

Ngày 22 tháng tám năm 1662, đức cha Lambert de la Motte đặt chân tới kinh đô Juthia, xứ Xiêm La. Tại đây, ngài gặp gỡ được một cộng đồng người Việt hải ngoại có tới trên một trăm người. Ngài cùng hai linh mục thừa sai phụ tá, François Deydier và Jacques de Bourges, đă không ngần ngại t́m cách giảng đạo và rửa tội cho đám dân Việt kiều này. Đầu năm sau, tức năm 1663, đức cha cho dựng nhà thờ và nhà xứ tại khu Việt kiều, đặt tên là nhà thờ thánh Giuse. Sau đó, vào tháng bảy năm 1663, ngài xuống tầu đi sang Trung Hoa. Gặp băo tố, tầu bị đắm ngoài khơi Cam Bốt, ngài phải trở lại Xiêm La.

Rồi, cho dù Toà thánh Roma, ngày đó chưa ban cho các thừa sai Pháp quyền hành nào trên đất Xiêm La[1], đức cha đă đứng ra thành lập giáo xứ Việt kiều tại Juthia, mang tên giáo xứ thánh Giuse. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, th́ đây là giáo xứ Việt Nam hải ngoại đầu tiên trong lịch sử công giáo.[2]

Vào cuối tháng hai năm 1664, một công đồng đă được nhóm họp tại Juthia gồm có hai đức cha Lambert de la Motte và Pallu, cùng năm linh mục thừa sai Pháp: Deydier, Laneau, Brindeau, Chevreuil và Hainques.[3]

 

Công đồng Juthia 1664 là cơ hội cho đức cha Lambert de la Motte tŕnh bày một chương tŕnh rất lớn và cũng rất khó thực hiện mà ngài đă cưu mang bấy lâu: quy tụ tất cả thừa sai thuộc quyền các giám quản tông toà thành một «Hội ḍng tông đồ»[4]. Trọn tâm hồn khổ hạnh, thần bí và khát khao sự trọn lành của ngài thể hiện trong chương tŕnh này. Đức cha Pallu, bản tính thực tiễn, bao dung và hoà giải hơn, đă ngần ngại không ít. Nhưng cuối cùng, đức cha Lambert de la Motte đă thuyết phục được ngài, cũng như đă thuyết phục được các thừa sai khác trong công đồng chấp nhận chương tŕnh trên.

 

&

 

Sau một năm hiện diện tại Xiêm La, vào tháng giêng năm 1665, đức cha Pallu lên đường trở lại Âu Châu. Ngoài các mục đích khác, ngài c̣n phải đệ tŕnh lên Toà thánh để xin chuẩn nhận việc thành lập «Hội ḍng tông đồ» nói trên. Đó là sứ mệnh tế nhị nhất và khó khăn nhất trong chuyến trở về Âu Châu lần này của ngài.

Trên đường đi, ngài không ngừng làm việc, lo toan sao cho sứ mệnh của ngài sắp tới tại Roma được thành tựu. Đến Madraspatam, ngài viết cho đức cha Lambert de la Motte[5], ngày 27.12.1665, rằng ngài phải nhờ ba người học tṛ ở đó sao lại các văn bản công đồng Juthia và chương tŕnh «Hội ḍng tông đồ». Mặt khác, ngài tỏ ra khá lo ngại phía Paris và Roma về chương tŕnh trên. Khi con tầu chở ngài vào vùng Địa Trung Hải, ngài viết một bức thư rất dài để báo tin cho các vị phụ trách Chủng viện Thừa sai tại Paris và nhất là thận trọng chuẩn bị tinh thần họ về chương tŕnh trên[6]: «Tôi gửi cho các ngài dự án một Hội ḍng tông đồ, cho việc truyền bá đức tin, giữa dân ngoại... Tôi chấm dứt lá thư này bằng một vài ư kiến quan hệ:

 

1-chỉ cho một số rất ít người thực quen thuộc và tín cẩn biết chương tŕnh của chúng tôi;

2-không ai được tuỳ tiện cho ai biết chương tŕnh này, nhưng phải theo ư kiến và với sự đồng ư của các người khác;

3-phải chuyển sang Pháp ngữ cho những kẻ không hiểu tiếng la tinh xử dụng, như các bà Aiguillon và Miramion;

4-đừng cho phép người ta sao lại, đừng khổ tâm việc người ta giữ lại các bản mà chúng ta sẽ cho thông ra;

5-về lá thư gửi đức giáo hoàng, về lời giải thích chương tŕnh và các nhận xét mà chúng tôi đă thêm vào, xin các ngài hăy xem xét kỹ lưỡng, xoá bỏ và mổ xẻ như ư thích các ngài; hăy thêm bớt sự nào các ngài xét thấy cần, rồi hăy cho viết lại những sự đó...;

6-hăy giữ thật kín đáo (bản sao chương tŕnh «Hội ḍng tông đồ»)...;

7-tôi sẽ không ngạc nhiên, một khi dự án của chúng tôi được biết đến th́ liền thấy nhiều người, ngay cả các đấng thông thái và các vị đạo đức, sẽ đứng lên phản đối dự án này, và họ sẽ cao giọng cùng sẽ hạ bút chống báng dự án...;

8-xin các ngài hăy để ư nhất là các tu sĩ về điểm này, họ sẽ không thể nào chịu nổi dự án này, v́ trong đó họ sẽ cảm thấy bị tổn thương bằng nhiều cách...;

9-các ngài đừng nghĩ rằng sẽ dễ dàng đạt được sự chuẩn nhận của Roma cho dự án này, v́ cái mới lạ cũng như v́ nhiều khía cạnh khác của dự án;

10-trong sự việc này, phải nhăng bỏ mọi phương thế trần tục...;

11-bởi thế chúng ta phải cần tới, hơn bao giờ hết, việc ăn chay, bố thí, nguyện ngắm...;

12-tôi không có tham vọng đem tŕnh bày, cho đức giáo hoàng và cho Thánh bộ Truyền bá Đức Tin, dự án trên tất cả ngay cùng một lúc, tôi sẽ tŕnh từng tờ từng tờ một tùy theo nhu cầu...;

13-hăy nghe thánh tông đồ Phao-lô...: «Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ...»...».

 

Một tháng sau, tức tháng tư năm 1667, đức cha Pallu đặt chân đến Paris. Rồi từ Paris, ngài sang Roma. Từ Roma về lại Paris. Từ Paris trở sang Roma. Mọi công việc tŕnh bày và thương lượng của ngài tại Roma đều thành tựu mỹ măn, chỉ trừ ra dự án thành lập một «Hội ḍng tông đồ»[7]:

 «Chỉ có ư định về Hội ḍng tông đồ là không thể có được một ai chấp thuận ở Roma cũng như ở Paris, mặc dù đă được nhiều vị thế giá, rất thông thái, đạo nghĩa và đức hạnh xem coi cùng xét duyệt. Dự án đă bị Thánh bộ Truyền bá Đức tin loại bỏ một cách tuyệt đối, tất cả mọi lời khấn chúng ta đă được tuyên bố là vô hiệu và đă bị giải bỏ...».[8]

Mọi cố gắng của đức cha Pallu cùng giấc mơ của đức cha Lambert de la Motte một sớm một chiều bị bỏ qua một bên: ngày 13.8.1669, Thánh bộ Truyền bá Đức tin bác bỏ chương tŕnh «Hội ḍng tông đồ» cùng giải thệ các lời đă khấn; ngày 6 tháng chín sau đó, đức giáo hoàng Clément IX xác nhận quyết định trên của Thánh bộ. Từ Roma trở lại Paris, đức cha Pallu thông báo tin trên cho đức cha Lambert de la Motte qua lá thư đề ngày 6.12.1669.[9]

Sứ mệnh tại Âu Châu hoàn tất, đức cha Pallu xuống tầu Le Phénix của thương đoàn Pháp quốc, ngày 11.4.1670, để trở lại Xiêm La.[10]

 

&

 

Bây giờ, chúng ta cùng t́m hiểu «Hội ḍng tông đồ» mà hai đức cha đă có dự tính thành lập năm 1664.

Thực sự, đây là tinh thần, ư định và chương tŕnh riêng của đức cha Lambert de la Motte, sẽ gồm tóm trong một tài liệu do chính ngài soạn thảo, tựa đề «Nouvelles vues d'un missionnaire touchant l'établissement d'une Congrégation Apostolique et de celles des Amateurs de la Croix de Jésus-Christ, reçues dans l'oraison»[11]. Bản tự sự này được viết ra có lẽ vào sau thời kỳ công đồng Juthia[12]. Trong đó, ngài đă tỏ lộ ư muốn lập «một Hội ḍng các nam nhân làm việc tông đồ» bao gồm «những kẻ đă tuyên khấn đời sống trọn lành, và tất cả những ai hiện đang thi hành các sứ vụ rao truyền, như tất cả các thừa sai và thày giảng»; sau nữa, là ư muốn lập «dưới sự hướng dẫn của các người (nêu trên) này, một Hội ḍng gồm những kẻ đức hạnh tuyệt vời và chuyên nguyện ngắm, thuộc mọi phái tính và điều kiện xă hội, cũng như cho ai có ḷng thực sự ao ước hiến thân hoàn toàn cho Thiên Chúa». Ngài gọi Hội ḍng ấy là «Hội ḍng Những Kẻ Mến Thánh Giá».

Mục đích của Hội ḍng là vun trồng «khắp nơi t́nh yêu thực sự đối với thánh giá Con Thiên Chúa». Ai gia nhập Hội ḍng th́ giữ 6 điều sau:

 

Điều một: giảng dạy và theo con đường chật hẹp của Phúc Âm, và xa lánh con đường rộng răi.

Điều hai: lănh nhận các Bí tích thường xuyên nhất có thể, tuy nhiên phải vâng ư vị linh hướng ḿnh.

Điều ba: mỗi ngày phải làm nửa giờ suy niệm về cuộc đời đau khổ, sự thương khó và tử nạn của Chúa Giêsu Kitô.

Điều bốn: mỗi ngày,vào ban chiều hay buổi tối, phải làm việc đánh tội trong khi đọc kinh «Miserere»[13]....

Điều năm: Vào ngày Chúa nhật Lễ Lá cùng bốn ngày tiếp theo, phải làm gấp đôi việc hăm ḿnh đó, và vào ngày thứ Sáu Tuần Thánh, phải làm gấp ba lần để tôn kính trọng thể cuộc Thương khó và một cách đặc biệt, ngày tử nạn của Con Thiên Chúa....

Điều sáu: phải tuyên giữ đặc biệt là yêu thương kẻ thù địch ḿnh...».[14]

 

Tại công đồng Juthia, các vài thừa sai hiện diện, kể cả đức cha Pallu, đă tuyên khấn:

«... Chúng tôi tuyên hứa và thệ nguyện với Thiên Chúa rất tốt lành và rất cao cả đức khó nghèo đời tu sĩ, đức khiết tịnh và đức vâng phục, và nhất là điều được diễn tả qua ba lời khấn trên, nghĩa là sự thanh thoát toàn vẹn của linh hồn cùng các năng lực của linh hồn, từ bỏ tuyệt đối việc tự do xử dụng các năng lực tâm hồn cũng như từ chối mọi niềm vui vẻ có thể đến từ một thụ tạo hay ngay cả từ những ân huệ trên trời; sau cùng và theo Bên Trên sẽ ban cho chúng tôi, một niềm vâng phục trọn vẹn theo sự soi sáng và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

«Chúng tôi cũng thề nguyền vâng lời hoàn toàn Đức Giáo Hoàng...

«Ngoài ra, chúng tôi tuyên hứa không t́m kiếm một bổng lộc nào, một tước vị nào, một chức vụ thuộc bất kỳ loại nào, một cách trực tiếp hay gián tiếp...».[15]

 

Ngoài lời khấn trên ra, đức cha Lambert de la Motte c̣n muốn thêm vào các lời hứa sau:

- Mỗi ngày phải nguyện ngắm ba giờ đồng hồ.

- Ăn chay suốt đời, mọi ngày, kể cả Chúa nhật.

- Không uống rượu, trừ ra các ngày lễ Phục sinh, Giáng sinh, Hiện xuống và trong các cuộc hành tŕnh.

- Không xử dụng thuốc thang.

- Luôn luôn ngủ trên nền cứng.[16]

 

Ngày nay, chúng ta biết đức cha Lambert de la Motte tha thiết muốn lập một Hội ḍng như trên là để công việc rao truyền Phúc Âm được chu toàn. Toà thánh đă gửi ngài đi với mục đích cao cả là xây dựng Giáo Hội, nhưng ngài chỉ gặp một t́nh trạng buông thả, hưởng thụ và giây dưa cả vào việc thương mại của những thừa sai tại Xiêm La. Với ḷng đạo đức thánh thiện cùng tính khí tuyệt đối sẵn có nơi ngài, ngài không thể không tố cáo ra t́nh trạng hỗn loạn đă thấy như trong bức thư ngài viết gửi cho cha Bagot bề trên ḍng Tên tại Paris[17]. Một lời trong thư ngài viết cho đức cha Pallu ngày đó cũng đủ để chúng ta hiểu được tâm trạng của ngài: «Có một thày ḍng Phan-xi-cô đă bỏ đây ra đi hơn một năm nay. Trong ṿng nhiều tháng trời ở đây, thày ấy đă dâng lễ cho nhiều người mà thày ấy không phải là linh mục. Có hai thày ḍng Ca-pu-xanh cùng thuộc về một ḍng và ở chung một mái nhà, song chẳng hề nói năng ǵ với nhau và đối với nhau như thù địch. Tất cả những hỗn tạp này là một vực thẳm vô kỷ cương mà tôi biết, đă khiến tôi phải van nài cùng đức cha hăy thường xuyên gieo ḿnh dưới chân Đức Thánh Cha và Thánh bộ hầu xin cho được việc thành lập Hội ḍng tông đồ mà ḷng nhân lành Thiên Chúa đă soi sáng cho chúng ta...»[18]

 

Nhưng chương tŕnh rất đỗi khắc khổ, nếu không dám nói là «xuất thể» và «xuất thế», của đức cha Lambert de la Motte đă được đón nhận như thế nào ? - Trước tiên chúng ta phải nh́n thấy là tất cả các vài thừa sai cạnh ngài đều đă ưng thuận. Nhưng Đức cha Pallu nói: «Tôi không có tham vọng nghĩ rằng, khi tŕnh bày ra dưới mắt các ngài[19], là làm cho các ngài nhận ra ngay được cái vẻ đẹp, những sự giầu có, tính chất quan trọng và sự cần thiết của dự án (Hội ḍng tông đồ) ngay đâu... Lần đầu tiên khi tôi được biết nhờ đọc một vài cái nh́n[20] mà đức cha Bêritê đă có ở một trong những lần tĩnh tâm của ngài. Tôi xem đó như một ư tưởng đẹp, hay nói đúng hơn, như một chuyện hăo huyền thuần túy (une pure chimère). Tôi đă chịu cực khổ không ít suốt hơn sáu tháng ṛng nghe ngài nói với tôi về chuyện ấy, mà ngài th́ chẳng hề cảm thấy chi khổ ải».[21]

Tuy đă nh́n ra cái «vẻ đẹp», nhưng ư thức rằng chương tŕnh trên sẽ gặp nhiều đối kháng, đức cha Pallu đă hết sức thận trọng khi đem chương tŕnh «Hội ḍng tông đồ» về Âu Châu như chúng tôi đă tŕnh bày phía trước. Về mặt lư thuyết tu đức học, các vị chuyên môn được tham khảo ư kiến tại Âu Châu đă không tỏ sự phản đối cụ thể nào[22]. Nhưng về mặt thực tế và ngoại giao, dự án của đức cha Lambert de la Motte bao hàm nhiều khuyết điểm, kể cả nguy cơ làm sụp đổ nguyên một công tŕnh Hội Thừa Sai Paris đang non nớt h́nh thành.

Khi Toà thánh bác bỏ chương tŕnh «Hội ḍng tông đồ» được đức cha Pallu đệ tŕnh, Toà thánh người ta chỉ đưa ra lư do tổng quát rằng: «Những lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục bề trong, như đă được diễn tả, chỉ thực hiện được trong những giả thuyết thật họa hiếm, không thể nào dùng làm nền tảng cho một hiệp hội tu tŕ bao giờ. C̣n các lời khấn khác về sự tuân thủ bề ngoài, phải xem đó như những quyết tâm tốt lành, và lại nữa, những quyết tâm như vậy ít thích hợp với các thừa sai, nhất là nếu họ thực hiện chung với nhau». Đức cha Pallu, ngay trong ngày được tin đức giáo hoàng phê chuẩn quyết định trên của Thánh bộ Truyền bá Đức tin, đă bỏ lời thề hứa tại Juthia 1664, ăn thịt và dùng rượu. Sau ngài viết cho đức cha Lambert de la Motte: «Tôi thà chết hơn là xa lánh một dấu phẩy trong các mẫu mực đă ghi định cho chúng ta, khi chỉ là tỏ ra sự kính trọng và vâng phục mà tôi phải giữ và muốn giữ suốt đời đối với Toà thánh».[23]

Phán quyết của Toà thánh như trên cũng tạm đủ cho chúng ta thấy cái thiếu hiện thực nhân bản trong dự đồ của đức cha Lambert de la Motte. C̣n về khía cạnh ngoại giao và xă hội, nguyện vọng của đức cha Lambert de la Motte về «Hội ḍng tông đồ» đă gây không ít hỗn độn và nguy hiểm cho Hội Thừa Sai Paris, trong bối cảnh đương thời: một phần, cách gián tiếp, dự án «Hội ḍng tông đồ» đă ngầm coi các thừa sai khác như bất xứng trong việc rao giảng. Như thế là quá đụng chạm tới tất cả những Hội ḍng khác đă và đang làm việc trong các miền phải rao giảng Tin Mừng; nhất là đụng chạm tới quyền bính triều đ́nh Bồ Đào Nha đă chính thức và từ rất lâu đời được Toà thánh trao phó việc truyền rao Tin Mừng tại Đông Nam Á. Mặt khác, ư định của đức cha Lambert de la Motte, một cách gián tiếp, đă lên án linh đạo I-nha-xi-ô của các tu sĩ ḍng Tên, là ḍng đang thời đi lên tại Pháp và có chỗ đứng rất lớn tại triều đ́nh vua Louis XIV. Hội Thừa Sai non nớt lo sợ là phải. Cũng may là đức cha Pallu và giám đốc Hội Thừa Sai Paris lúc đó, cha Gazil, là những người hiếu hoà và có năng khiếu hoà giải, nên sự thể không đến nỗi đáng tiếc.

Vài sử gia uy tín sau này, bàn về vấn đề «Hội ḍng tông đồ», thường mang những phán đoán giống nhau, hoặc về con người đức cha Lambert de la Motte, hoặc về sự thể trong bối cảnh lúc đó:

Adrien Launay viết: «Chúng ta nh́n những sự việc hằng hai thế kỷ sau... C̣n các Giám quản Đại Diện Tông toà th́ không thể, như chúng ta, kiểm chứng được những kết quả và cảm thấy được bảo đảm về sự bền vững của công tŕnh ḿnh, nên lo lắng cho tương lai. Từ chính các đấng cho đến các cộng tác viên, chẳng có ai đă dấn thân qua lời thề hay lời hứa nào; chẳng có bề trên nào cầm đầu; chỉ có thiện chí của họ dựa trên ơn Chúa ban là mối giây duy nhất liên kết họ với nhau và với ơn gọi của họ. Mối giây đó liệu đă đủ chưa ?...»[24]

Henri Chappoulie nhận xét đức cha Lambert de la Motte như con người luôn «khắc khoải bối rối về sự trọn lành trong tâm linh», thiếu «thông hiểu tinh thần Thánh bộ Truyền bá Đức tin» là chỉ nhằm thiết lập một hàng giáo sĩ địa phương, quá «nghiệt ngă với các tu sĩ thừa sai», đặc biệt là các tu sĩ ḍng Tên, và nhất là trong vấn đề đang bàn, đă gây nguy cơ chia rẽ giữa ḍng Tên và Hội Thừa Sai Paris.[25]

Và một tác giả mới, Dom Guy Marie Oury, cho ư kiến rằng: «Chưa hề có Hội ḍng nào đă gồm lại từng ấy sự trong các lời khấn... Dự án của Lambert de la Motte hẳn đă đắp ải chống lại những giới hạn chung của tính con người, ngay cả nơi những kẻ quảng đại nhất... Luật lệ ấy có lẽ trong ṿng vài tháng trời sẽ đưa xuống mồ tất cả các thừa sai miền Viễn Đông».[26]

 

&

 

Bây giờ chúng ta trở lại xứ Xiêm La: từ ngày đức cha Pallu lên đường đi Âu Châu, đức cha Lambert de la Motte làm ǵ tại Juthia ?

Sau khi tiễn đức cha Pallu vào tháng giêng năm 1665, các thừa sai Pháp tại Xiêm La bắt đầu nghĩ tới việc xây cất một chủng viện tại Juthia. Công tŕnh khởi sự vào năm sau đó. Chủng viện được mang tên gọi «Chủng viện thánh Giuse», là nơi ăn ở của các thừa sai người Pháp và cũng là nơi đào tạo các linh mục tương lai cho miền Đông Nam Á.[27]

 

Tháng mười năm 1667, đức cha Lambert de la Motte viết cho đức cha Pallu, lúc đó đang ở Roma, một lá thư rất lạc quan, tŕnh bày các dự tính của ngài, như sau[28]:

«Từ ít lâu nay tôi cứ toan tính viết cho đức cha, bàn tới ba việc phục vụ lớn mà chúng ta có thể đem lại cho Giáo Hội tại vương quốc này và ba việc ấy chắc sẽ được đón nhận tốt.

Việc thứ nhất là thành lập tại đây một chủng viện và một nhà trường thường trực cho tất cả các quốc gia, có thể chứa được gần một trăm người; đó là chuyện mà chúng ta đă đề đặt ra các điểm căn bản rồi, trong hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ ban cho được phát triển khả đáng.

Việc thứ hai là thiết lập một cộng đoàn các thiếu nữ đồng trinh; cộng đoàn này có thể sẽ cũng vậy và sẽ đông hơn cộng đoàn các thày chủng sinh. Về chuyện này, chúng ta sẽ cần tới một hoặc hai phụ nữ đức hạnh từ Pháp, có đặc ân về công tác này. Đi đường biển để đến đây th́ không là chuyện khó khăn lắm; các phụ nữ ấy không được kém can đảm hơn các bà nước Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Các bà Bồ Đào Nha đi khắp miền Ấn Độ Dương, và các bà Tây Ban Nha c̣n đi tới tận Phi Luật Tân.

Việc thứ ba là việc sẽ đem lại kết quả nhiều nhất dưới con mắt của triều đ́nh là việc tạo nên một bệnh viện cho các kẻ đau yếu, và để điều hành bệnh viện th́ cần hai người nhiệt tâm trong việc phục vụ người nghèo. Hai người ấy nên hiểu vài sự trong khoa giải phẫu và y học. Rồi ngay cả khi những sự giúp đỡ trên không lấy ǵ làm khéo léo lắm, ở chốn này họ cũng được xem như những kẻ xuất chúng rồi.

Xin đức cha đừng có kinh hoảng về các công tŕnh cao vời trên dưới chiêu đề là phải có những ngân quỹ thật lớn xem ra sẽ cần trong việc xây dựng và nâng đỡ những công tŕnh trên. Bởi v́ kinh nghiệm của tôi cho tôi biết rằng chắc chắn là với một ngàn quan tiền ê-cu một năm, người ta có thể nuôi nấng và ǵn giữ ở đây hơn một trăm chủng sinh rồi. Về cộng đoàn các thiếu nữ th́ lại c̣n cần ít hơn thế nữa, v́ các chị em không bận việc học hành có thể nhờ việc làm lụng chân tay mà kiếm được một phần lớn để sống và để lo kẻ bệnh hoạn rồi.

V́ tất cả những hoài băo lớn lao ấy ḥng t́m những kết quả thật vô cùng khả quan sau này, v́ sự trở lại của các linh hồn, và v́ việc an ủi nâng đỡ các kẻ nghèo nàn bệnh tật, một khoản tiền lời 2.500 quan ê-cu có lẽ là đủ; như vậy số vốn sẽ quăng chừng là 50.000 quan ê-cu. Nhưng c̣n hơn thế nữa, ở đây vốn 12 ngàn quan ê-cu trong hệ thống Tây Ban Nha, cho đặt lấy lời, theo giá của nhà vua, sẽ cho được mỗi năm là 2.500 quan ê-cu, v́ giá 22,5% và là giá thấp nhất và phải chăng nhất trong vương quốc này. Thưa đức cha, đức cha thấy đó, ở đây người ta có thể làm việc thiện với giá rẻ hơn tại Pháp rất là nhiều. Chỉ cần tôi cho đức cha biết cái ư này mà trông mong thành tựu hạnh phúc nào đó».

 

Đức cha Lambert de la Motte đă tỏ ra khá lạc quan khi nh́n về tương lai. Đó là thời gian tương đối thuận tiện cho các thừa sai Pháp tại Xiêm La, đặc biệt trong quan hệ với triều đ́nh vua Phranarai[29] tại đó, mặc dù phía Bồ Đào Nha không ngừng gây khó dễ cho đức cha và các thừa sai người Pháp.

Năm 1668 c̣n đem lại niềm vui khác nữa cho đức cha và cũng là năm lịch sử của Giáo hội Việt Nam, v́ ngày 31.3 đức cha đă truyền chức linh mục cho một người Việt Nam đầu tiên, xứ Đàng Trong, là cha Giuse Trang. Sang ngày 15.6.1668, hai thày giảng xứ Đàng Ngoài, Gioan Huê và Bentô Hiền, và cuối năm 1668, thày Luca Bền, xứ Đàng Trong, cũng được chịu chức linh mục. Tất cả những lễ truyền chức trên đều được cử hành tại Juthia.

Một sự kiện nhỏ cũng đáng được lưu ư trong năm ấy là địa phận Đàng Trong đă cho sáu bổn đạo đi thuyền sang tận Xiêm La để đón đức cha Lambert de la Motte về địa phận ḿnh. Họ đến Juthia vào ngày 8.5.1668. Nhưng đức cha đă không thể ra đi với họ được.[30]

 

Mùa hè năm 1669, ngày 17 tháng bảy, đức cha rời Juthia đi kinh lư xứ Đàng Ngoài.

 

./.

 

<<<<< về trang đầu tiên <<<<<

 



[1] Măi đến ngày 4.7.1669, đức giáo hoàng Clément IX mới kư sắc lệnh Cum sicut accepimus ban quyền cho các giám quản tông toà người Pháp phục vụ xứ Xiêm La.

[2] Xem «Relation du voyage de Monseigneur l’Evêque de Beryte...» (Jacques de Bourges, Paris 1666). Bản dịch: «Kư sự cuộc hành tŕnh của đức cha Beryte» (Đào Quang Toản, Tp Hồ Chí Minh 8.1996).

[3] Ngoài ra, bên cạnh đức cha Pallu, c̣n có một giáo dân phụ tá là ông Chamesson-Foissy.

[4] «Hội ḍng tông đồ» = Congrégation apostolique.

[5] A.Launay, «Lettres de Mgr Pallu, I» (Paris 1904), trang 37. Một thư khác cho đức cha Lambert de la Motte, cũng tại Madraspatam năm 1665, cho biết đức cha Pallu chuẩn bị kỹ lưỡng việc đệ tŕnh Toà thánh chương tŕnh «Hội ḍng tông đồ»: A.Launay, sách đă dẫn trên, trang 40-41.

[6] A.Launay, sách đă dẫn trên, trang 56-61. (Thư viết ngày 5.3.1667).

[7] Liên hệ tới «Hội ḍng tông đồ» trong sứ mệnh của đức cha Pallu tại Âu Châu, một số thư từ của ngài viết đă được A.Launay xuất bản trong «Lettres de Mgr Pallu», tập I và tập II, (Paris 1904), gồm có: (tập I) trang 36 (gửi đức cha Lambert de la Motte, 27.12.1665); tr.40 (gửi đức cha Lambert de la Motte, 1665); tr.49 (gửi thừa sai, thày giảng và giáo dân Đàng Ngoài, 2.1667); tr.56 (gửi Chủng viện Paris, 5.3.1667); tr.73 (gửi Fermanel, 19.6.1667); tr.84 (gửi một cha tại Chủng viện Paris, 25.10.1667); tr.94 (gửi đức cha Lambert de la Motte, 6.12.1669); tr.114 (gửi Deydier, 28.12.1670); (tập II) trang 26 (gửi đức giáo hoàng Clément IX, 1667); tr.345 (gửi Du Plessis-Montbard).

[8] Thư đức cha Pallu gửi cho cha Deydier, ngày 28.12.1670 (A.Launay, sách đă dẫn trên, tập I, trang 119).

[9] Trong A.Launay, sách đă dẫn trên, tập I, trang 94-97.

[10] Về chuyện «Hội ḍng tông đồ», A.Launay cho ư kiến sau: «Vấn đề Hội ḍng tông đồ xứng đáng một công việc đặc biệt, ít nữa là việc xuất bản toàn bộ dự án mà đức cha Pallu và đức cha Lambert de la Motte đă soạn thảo ra và được giữ trong kho Văn Thư Hội Thừa sai Paris: tập 109 và tập 121». («Lettres de Mgr Pallu», tập II, trang 26, ghi chú 1).

[11] («Những cái nh́n mới của một thừa sai liên quan tới việc thành lập một Hội ḍng tông đồ và các Hội ḍng Những Kẻ Mến Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô, nhận được trong khi cầu nguyện»).

[12] Tài liệu viết tay: AMEP. 121,756-762 (bản Pháp ngữ). Đây là một trong những tài liệu nền tảng của ḍng Mến Thánh Giá. Một phần tài liệu này đă được đăng trong: «Tonkin. Doc.I», trang 106-108. Bản dịch Việt ngữ đăng trong «Đức cha», trang 47-52. Bản la tinh viết tay: AMEP. 663, 7-10.

[13] «Lạy Chúa, nguyện thương tôi» (thánh vịnh thứ 50).

[14] Ư muốn thành lập một Hội ḍng tông đồ cùng Hội ḍng Mến Thánh Giá gồm nhiều nghành khác nhau là mộng ước rất xa xưa của đức cha Lambert de la Motte, từ ngày ngài c̣n bé. Lời của ngài được trích dẫn sau đây sẽ làm chúng ta ngạc nhiên không ít: «...Voilà un éclaircissement plus particulier et plus ample de la vue qui m’avait été donnée il y avait plus de trente et cinq ans (đă có trên 35 năm) de l’évation et de l’obligation de la Congrégation des Amateurs de la Croix» (AMEP. 121, 757). Như vậy, «cái nh́n» về việc lập ḍng Mến Thánh Giá «đă được ban» cho đức cha từ hồi ngài mới lên quăng 5 tuổi, nếu chúng ta cho là ngài đă viết bản «Những cái nh́n mới...» vào năm 1664. (Tức là 1664 - 35 = 1629: sinh năm 1624, ngài được 5 tuổi vào năm 1629 ấy). Hay : quăng 9 tuổi, nếu chúng ta cho là ngài đă viết bản «Những cái nh́n mới...» vào năm 1668.

[15] Tài liệu viết tay: AMEP. 201,275; đăng trong: «Histoire générale I», trang 111-112. Một bản dịch Việt ngữ được đăng trong: «Đức cha», trang 45-46.

[16] Đức cha Lambert de la Motte cảm thấy rất hạnh phúc được tuyên thệ lời khấn trên như trong thư ngài gửi cho cha Simon Halley năm 1664 đă nói rơ (tài liệu viết tay: AMEP. 121, 592).

[17] Tài liệu viết tay: AMEP. 121, 567. Ngày 10.2.1664. Ngoài ra, trong AMEP. tập số 121 này, chúng ta c̣n có thể đọc được bản sao 58 lá thư của đức cha Lambert de la Motte viết vào những năm 1663 và 1664, cho thấy t́nh trạng buông thả nơi các tu sĩ thừa sai tại Xiêm La và ư chí cải tổ nơi đức cha.

[18] Tài liệu viết tay: AMEP. 121, 726. Ngày 25.1.1667.

[19] Tức các vị phụ trách Chủng viện Hội Thừa Sai tại Paris.

[20] Tức «Nouvelles vues...» («Những cái nh́n mới...»).

[21] A.Launay: «Lettres de Mgr Pallu», tập I, trang 56.

[22] Xem A.Launay: «Histoire générale I», trang 175-176.

[23] A.Launay: «Histoire générale I», trang 176-177.

[24] A.Launay: «Histoire générale I», trang 110.

[25] H.Chappoulie: «Aux origines d’une Église, Rome et les missions d’Indochine au XVIIè siècle», tập I, (Paris, Bloud et Gay 1943), trang 265-272.

[26] Oury: «Mgr Pallu ou Les missions étrangères en Asie au 17è siècle» (France-Empire 1985), trang 82-83.

[27] Các tác giả thường dùng từ «Chủng Viện» (Séminaire) để chỉ nhà ở của các thừa sai, và từ «Nhà Trường» (Collège) để chỉ nơi dạy dỗ các linh mục tương lai.

[28] Tài liệu viết tay: AMEP. 875, 224. Được A.Launay đăng trong: «Documents historiques sur la Mission de Siam», tập I, (Téqui-Paris 1920), trang 23.

[29] Vua Phranarai là một ông vua cấp tiến và cởi mở, trị v́ từ 1656 đến 1688.

[30] Tài liệu viết tay: AMEP. 121, 751.

 

./.

 

<<<<< về trang đầu tiên <<<<<