chương ba
Tại Đàng Ngoài :
sau ngày thành lập
Trong chuyến kinh lư tại Đàng Ngoài,
đức cha Lambert de
Ngày 19.2.1670, ngài rời xuống thuyền
trên sông để ra cửa biển. Gặp thời tiết
không thuận, con thuyền chở ngài và thừa sai Bouchard
phải nằm chờ măi đến ngày 14.3.1670 mới ra
khơi. Vẫn là con thuyền buôn của ông Junet người
Pháp đă chở các ngài từ Xiêm La sang.[1]
Lợi dụng những ngày c̣n lại tại
Đàng Ngoài, đức cha viết lá thư sau cho hai chị
nữ tu đầu tiên của ḍng Mến Thánh Giá[2] :
«Phêrô Lambert, nhờ ơn Chúa và Toà thánh tông
đồ, giám mục Bêritê, Giám quản tông toà, gửi quư
d́ thân mến Anê và Paola là những người đầu
tiên đă nhận ḍng Chị em Mến Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô,
lời chào và phép lành.[3]
Cha đă ao ước được chuyện
tṛ với chúng con sau khi chúng con đă tuyên thệ những lời
khấn một cách công khai ngày Lễ Tro, trước sự
hiện diện của cha, để nói cho chúng con một
vài điều nữa về sự cao sang trong địa vị
chúng con và về sự trọn lành mà ḷng nhân từ của
Thiên Chúa đă gọi chúng con vào; nhưng, v́ bắt buộc
phải ra đi hôm đó để c̣n trở về, cha
đă có ư viết cho chúng con lời này mà răn bảo chúng
con rằng chúng con không c̣n thuộc về ḿnh nữa, song
hoàn toàn thuộc về Chúa Giêsu Kitô. Chúng con đă tận hiến
ḿnh cho Người, hầu từ nay trở đi chỉ
c̣n chuyên cần lo hiểu biết Người và yêu mến
Người, bằng sự nguyện ngắm và bắt
chước đời sống đau khổ của
Người và bằng cách tuân giữ những nghĩa vụ
của Hội ḍng chúng con. Cha khuyến khích chúng con hết
sức cha có thể, hăy trung thành với những nghĩa vụ
của Hội ḍng chúng con, biết rằng nhờ đó mà
chúng con và toàn thể Giáo hội này sẽ nhận được
lợi ích lớn lao. Cha cũng dặn ḍ chúng con một
cách riêng phải vô cùng lo lắng cho các chị em tập sinh
của chúng con mà chúng con phải xem họ như những của
thánh mà Thiên Chúa đă đặt để trong bàn tay chúng
con. Chúng con hăy nhớ thường xuyên dạy bảo họ
mục đích chính của Hội ḍng chúng con là tiếp tục
đời sống đau khổ của Chúa Giêsu Kitô nơi
họ và hằng ngày xin Người, qua những lời
nguyện, nước mắt, công việc, hy sinh của
chúng con, ơn trở lại cho những kẻ ngoại
đạo và những Kitô hữu bê bối. Nhưng cực
kỳ quan hệ là thực hiện mọi sự ở
cương vị của Chúa Giêsu Kitô : Người muốn
chính ḿnh làm mọi sự ấy và v́ không thể được,
nên Người dùng đến một số kẻ đă
được tuyển chọn mà Người ban đầy
tràn tinh thần Đấng Trung Gian hầu tiếp tục
như vậy cuộc đời lữ hành và hy sinh của
Người cho đến thời kỳ cùng tận. Các d́
thân mến, chúng con thấy đó sự cao sang của
ơn gọi chúng con và chúng con đă chết cho thế gian;
nghĩa là chết cho các giác quan, bản tính và lư trí con
người, để từ nay chỉ c̣n sống theo những
lời dạy, những việc làm và cuộc đời
Chúa Giêsu Kitô. Cha xin chúng con hăy cứ suy nghĩ về sự
ấy và đừng quên cha trước mặt Thiên Chúa.
Tại cửa biển xứ Đàng Ngoài,
ngày 26.2.1670».
Bức thư trên, cũng như những ǵ
đức cha Lambert de la Motte đă soạn thảo khi lập
ḍng nữ Mến Thánh Giá, thể hiện tính rất khổ
hạnh nơi tinh thần tu đức của ngài : «Chúng
con đă chết cho thế gian : chết cho các giác quan, bản
tính và lư trí con người». Đi theo con đường
thiêng liêng ngài vạch ra là phải hoàn toàn «thoát tục».
Trở lại chuyến đi của ngài :
ngài về đến Xiêm La vào đầu tháng năm năm
đó, 1670. Rồi vào tháng mười, ngài viết gửi
đức giáo hoàng bài phúc tŕnh về chuyến đi
Đàng Ngoài của ngài. Nhân dịp này, ngài cũng gửi
cho linh mục Lesley[4]
tại Roma một lá thư riêng[5].
V́ vẫn chưa hay biết ǵ về quyết định tại
Roma, ngài vui mừng và hănh diện cho linh mục Lesley biết
:
«... Giữa 2 thừa sai Pháp của chúng ta,
9 linh mục bản xứ, 48 thày chức nhỏ mà tôi
đă truyền, và các chủng sinh, tất cả hợp
thành một cộng đoàn lớn, chẳng có chút ǵ là «của
tôi» hay «của anh»; họ sống theo như cách thức
đă hướng dẫn của công đồng (Phố Hiến)
mà tôi đă gửi về Roma.... Một vài goá phụ đạo
đức đă quy lập những nền tảng đời
sống tu tŕ trong vương quốc này, sẽ không thua kém
ǵ đâu. Sau khi xem xét ơn sủng của họ, hướng
chiều của họ, đường lối Thiên Chúa dẫn
dắt họ và những thực hành của họ từ mấy
năm rồi, tôi đă ban cho họ những quy luật mà
tôi gửi sang Toà thánh, để tŕnh ra chịu khảo duyệt,
và xin được chuẩn nhận nếu Toà thánh xét là
được.
Tôi lợi dụng dịp này để xin
Đức Giáo Hoàng ưng nhận một Hội ḍng các kẻ
Mến Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta mà tôi đề nghị
ra, sau khi biết ḷng rất đạo đức của
giáo dân nơi những miền này là tỏ ra ḷng biết
ơn đối với cái chết cùng sự thương
khó của Chúa Cứu Thế mọi người.
Tôi mong cha, v́ t́nh yêu của cha đối với
Chúa, hăy làm việc hầu xin được nơi Toà thánh
sự chuẩn nhận quy luật ấy, bản này và bản
kia, với các ân xá nhiều nhất mà cha có thể, cho những
người nam và nữ sẽ thực thi những quy luật
ấy; những ân xá có thể được dành giảm bớt
sự đau khổ của các linh hồn nơi luyện
ngục.
Tại Xiêm La, ngày 20.10.1670».
Việc chuẩn nhận của Toà thánh Roma
là sự quan trọng. Đức cha Lambert de la Motte rất
ư thức điều đó nên trông cậy linh mục Lesley,
vốn thân cận với các hồng y tại giáo triều,
giúp đỡ. Ngay cả đức cha Pallu, trên đường
trở lại Xiêm La, khi hay tin chuyến kinh lư và kết quả
của đức cha Lambert de la Motte tại Đàng Ngoài,
đă viết thư dặn ḍ các vị đại diện
Hội Thừa Sai của ngài tại Pháp cũng như tại
Roma rằng[6] :
«Về chuyện các chị em Kitô hữu nhiệt
thành mà đức cha Béritê[7]
đă quy tụ lại với nhau dưới một số
quy luật và họ đă tuyên thệ ba lời khấn
đơn là khiết tịnh, khó nghèo và vâng lời, phải
rất lưu tâm mà chớ xin sự
nh́n nhận Hội ḍng này như một ḍng tu mới. Các sự
việc không nằm tại đó đâu, và nếu người
ta cứ chủ trương như thế, sẽ thấy
ḿnh c̣n rất xa với sự thể. Đây chỉ là một
tu hội đơn thuần giản dị như đă có
rất nhiều ở Âu Châu; Hội ḍng ấy như thế
nào th́ phải tŕnh bày ra như thế ấy dưới con
mắt của Toà Thánh, để Toà Thánh c̣n thêm, bớt hay
sửa đổi những ǵ theo sự xét xử của
Toà Thánh .
Về cách thức, tôi nhận định
là nên xin các ân xá cho Hội ḍng các thiếu nữ mà đức
cha Béritê đă thiết lập tại xứ Đàng Ngoài :
các chị em có ba lời khấn đơn, có các nghĩa vụ
này nọ, có các quy luật này nọ. Trong việc này, hăy
tuân giữ những ǵ người ta quen làm tại Roma
để thành lập những hiệp hội mới. Các
ân xá nên xin sẽ là : ân toàn xá cho ngày vào ḍng và ngày tuyên khấn,
và tất cả những ân xá đă được ghi trong
các thể thức b́nh thường và đặc biệt».
Những lời trên chỉ là một đoạn
nhỏ trong lá thư đức cha viết tại Surate,
ngày 11.11.1671, quăng mấy tháng sau khi nhận được
tin tức từ Xiêm La về đức cha Lambert de la Motte
cũng như tin thừa sai Chevreuil bị giới cầm
quyền Bồ Đào Nha bắt tại Macao và cầm tù bốn
năm tháng trời tại Goa, Ấn Độ. Lá thư rất
dài của ngài cho nh́n thấy t́nh trạng hiểu lầm
khá lớn giữa Hội Thừa Sai tại Paris đối
với đức cha Lambert de la Motte tại Xiêm La, một
phần lớn do thái độ rất cứng rắn của
đức cha Lambert de la Motte trước các tu sĩ thừa
sai tại Đông Nam Á, đặc biệt ḍng Tên[8].
Đức cha Pallu luôn t́m xây dựng hoà giải đôi bên,
nhưng cũng nh́n nhận : «Về lối cư xử của
ngài (đức cha Lambert de la Motte) đối với các cha
ḍng Tên, tôi tin là có sự quan pḥng của Chúa. Tại những
miền đó, các cha ḍng Tên chắc chắn là cần một
người như ngài, đủ dũng cảm, đủ
can trường và đủ sức mạnh để kháng
cự lại trước mặt họ và đối đầu
lại với họ. Tôi hy vọng rằng sự ấy sẽ
tạo cho họ điều thiện hảo và công tŕnh của
chúng ta sẽ được xây dựng tốt hơn».
Nhưng công việc lúc đó không chỉ là
«kháng cự» hoặc «đối đầu»; trái lại,
đức cha Pallu ư thức sự thể, nhất là sau
kinh nghiệm tại Roma và Âu Châu vừa qua, cách riêng liên quan
tới dự án «Hội ḍng tông đồ» bị bác bỏ.
Bởi thế, ngài đă dặn : «Các sự việc không nằm
tại đó đâu, và nếu người ta cứ chủ
trương như thế, sẽ thấy ḿnh c̣n rất xa
với sự thể. Đây chỉ là một tu hội
đơn thuần giản dị như đă có rất nhiều
ở Âu Châu».[9]
Công việc rao giảng Phúc Âm tại khu vực
Ấn Độ Dương lúc đấy không đơn
giản. Bởi vậy, chưa đặt chân trở lại địa sở
ḿnh, đức cha Pallu đă phải cho thừa sai Charles
Sevin quay gót về Paris và Roma để, một lần nữa,
t́m giải quyết mọi sự rắc rối tại
địa phương. Ngài cẩn thận chỉ dẫn
thừa sai Sevin mọi sự sẽ cần phải làm[10].
Liên quan tới ḍng Mến Thánh Giá mới lập tại
Đàng Ngoài, đức cha dặn :
«Đề nghị (với Toà thánh) hiệp
hội và đoàn thể của nhiều quả phụ và
thiếu nữ tốt lành đă lập thành tại xứ
Đàng Ngoài theo những phép tắc mà đức cha Bêritê
đă vạch ra cho họ, và thỉnh cầu cho họ cùng
những đặc ân và những ân xá như đă ghi cho các
thày giảng».[11]
Cha Sevin đến Pháp tháng 8.1672, rồi sang
Roma đầu năm 1673. Tại Paris, tiếng tăm của
đức cha Lambert de la Motte không được mấy tốt
đẹp, nhất là về phía các tu sĩ ḍng Tên; nhưng
tại Roma, Thánh bộ Truyền bá Đức tin công khai
khen ngợi và hậu thuẫn thái độ cứng rắn
của đức cha đối với các tu sĩ thừa
sai tại địa phương.
Thời gian trôi qua, măi đến năm
1678, ngày 28 tháng tám, mới có sắc lệnh của Thánh bộ
Truyền bá Đức tin ban các ân xá cho những Kẻ Mến
Thánh Giá.[12]
&
Tại Đàng Ngoài : kể từ lúc đức
cha Lambert de la Motte về Xiêm La, Hội ḍng Mến Thánh Giá ra
sao ?
Ra đi, đức cha đă để lại
một thừa sai người Pháp, cha Jacques de Bourges, bên cạnh
thừa sai Deydier. Và số các linh mục bản xứ lúc
đó là 9 vị.
Hai thừa sai Pháp ở Đàng Ngoài vẫn
ăn mặc như người thường và vẫn
xưng ḿnh ra với xă hội bên ngoài như thương
nhân người Pháp[13].
Nhờ đó, chúa Trịnh cho phép lập thương điếm
tại Phố Hiến.[14]
Thừa sai De Bourges, trong cái nh́n mới mẻ
của một người mới đến Đàng Ngoài,
đă cho cảm tưởng : «... Chúng tôi nh́n mà thán phục
những kẻ đă lập gia đ́nh rồi mà sẵn
ḷng rời nhau để chỉ chuyên cần cho duy nhất
một Thiên Chúa[15],
giữ tiết hạnh trọn đời. Chúng tôi
được an ủi thấy nhiều phụ nữ nhân
đức đă làm lời khấn sống chung một
đời sống thánh thiện. Nh́n tổng quát về các
kẻ có đạo, bảo đảm là họ chẳng
thua sự ǵ so với những kẻ (có đạo) sinh tại
các nước chúng ta».[16]
Và cha De Bourges lúc đó, sau khi con tầu chở
đức cha Lambert de la Motte đi khỏi, liền :
«chăm chú không ngừng học tiếng xứ này là thứ
tiếng rất khó; em có cái lợi là một trong những
giáo sĩ mà em ở cùng rất thông thạo tiếng xứ
này : ông ta làm thày dạy cho em».[17]
Cũng trong lá thư đề ngày 19.2.1670
trên[18],
thừa sai de Bourges c̣n cho gia đ́nh biết : «Có một số
khá đông các quả phụ và thiếu nữ; những
người này (dù) chẳng hề biết làm nữ tu là thể
nào, đă từ chối chuyện hôn nhân và từ nhiều
nơi khác nhau đă tụ họp lại sống chung cùng
nhau để bảo tồn ân sủng Kitô giáo và chuyên chú
vào việc cầu nguyện cùng các công việc từ thiện.
Nói tắt một lời, ở đây gặp được
điều mà anh đă có thể đọc được
trong lịch sử những sự việc đă thực hiện
hồi Giáo Hội khai sinh...»
Trong bản tường tŕnh năm 1670 về
Paris, thừa sai De Bourges có nói về Hội ḍng Mến Thánh
Giá như sau[19]
:
«Một bầy các bà góa và thiếu nữ
đă khởi sự tuân giữ những quy luật mà đức
cha Bêritê đă dựng nên cho họ để bắt đầu
một Tu Hội dưới ba lời khấn đơn mà
họ sẽ tuyên thệ. Và v́ sợ bị kẻ ngoại
khám phá ra, các chị em đă chia nhau ra làm hai nhà. Theo
gương của họ, một bà góa tốt lành tên gọi
là Lina, 45 tuổi, đă quy tụ trong làng của bà năm
hoặc sáu thiếu nữ để theo cùng một lối
sống trên. Một trong các cô của bà Ursula, tên là Catherina,
đă được rửa tội ba năm trước,
hết ḷng nài xin cho được nhận vào số các nữ
tỳ này của Chúa. Cách đây sáu tháng, cô ấy cứ giục
cha Deydier hăy tiếp nhận cô ta, mặc kệ những lời
van nài của cha mẹ để gả cưới cô ta và
nhất là lời của chị cô ta đă lấy ông anh cả
nhà vua. Nhưng v́ e ngại rằng cô ta sẽ làm lộ cái
Hội thánh thiện này ra v́ cha mẹ cô sẽ đi t́m kiếm
cô ta, nên người ta thấy là không tiện tiếp nhận
cô ta được.
Nhiều kẻ khác nữa cũng nài van
như vậy, nhưng thời gian này thật là hiểm
nghèo; nếu Chúa vui ḷng cho cơn bắt đạo này dừng
lại, th́ chẳng mấy chốc sẽ thấy những
tu viện được xây dựng lên và nhiều tâm hồn
tốt lành sẽ gia nhập mà theo đuổi đời sống
tu tŕ».
Phần thừa sai Deydier, trong thư gửi
cho Thánh bộ Truyền bá Đức tin tại Roma, ngài cũng có nhắc đến các chị
em Mến Thánh Giá bằng những lời này[20]
:
«Ngày 16.10.1673
Tuy chúng con không bỏ rơi các Kitô hữu đến với chúng con, nhưng chúng con nghĩ là phải
đặt nhiệm vụ chính lo vấn đề cải
tổ và xây dựng hàng giáo sĩ nhỏ bé của chúng con.
V́ lẽ đó, chúng con xây một căn nhà vắng nhỏ
mọn bên cạnh ngôi nhà của chúng con làm nơi tĩnh
tâm cho trên 30 trong số những
người đang làm việc với chúng con để phục vụ cho sứ vụ thừa
sai này và cho gần ba chục chị em đồng trinh của
chúng con, các chị Mến Thánh Giá; chị em này và chị em
nọ đều đă rút tỉa được ích lợi
đáng kể cho sự học hỏi và tiến bộ của
họ».
Mấy năm sau đó, trước sự
phát triển của Hội ḍng Mến Thánh Giá, thừa sai
Deydier đă có một quyết định cá nhân rất
đáng ca ngợi như chúng ta sẽ thấy trong lá thư
ngài gửi cho chị ngài như sau[21]
:
«Ngày 02.12.1677
Về chuyện chị bảo đảm với
em rằng gia đ́nh sẽ trả cho em số tiền 900
hay 1.000 phật lăng là số lời do khoản tiền
cấp dưỡng mà gia đ́nh ban cho em theo mọi quyền
bên nội và bên ngoại của em, tựa như ưng thuận
của em với ông anh em, chồng của chị.
Em có thể xác định thành thực với
chị rằng em không yêu cầu một số tiền gấp
đôi để dùng mà sinh sống đâu, cho dù số tiền
mà em tiêu dùng ở đây trong việc thừa sai của
chúng em lên tới gấp hai lần số tiền cấp
dưỡng mà em đă lượng tính vào việc ấy.
Tuy vậy, em rất mong có được số
tiền trên để xử dụng vào một công tŕnh
đạo đức mà em đă
bắt đầu là một hội ḍng các phụ nữ
và các thiếu nữ sống chung với nhau theo một quy
luật khá nghiệm ngặt. Họ không có khoản tiền
nào khác để sinh sống hơn là những ǵ họ thu
hoạch được bằng mồ hôi đổ ra trên
khuôn mặt họ. Điều ấy làm cho họ lệch
lạc các việc tinh thần không ít và khiến họ liều
ḿnh vào lắm thứ sao nhăng.
Dẫu chẳng thật lớn lao ǵ, số
tiền cấp dưỡng của em có lẽ cũng dùng
để cấp cho họ được một phần
vào việc họ sinh sống, bằng cách xử dụng
làm nguồn lợi đất đai nào đó, bởi v́
đất cát ở đây rất là rẻ.
Chị kính mến, đó là nguyên do mà em muốn
có được số tiền trên trong tay ḿnh».
&
Vào năm 1677, tức bảy năm sau ngày
thành lập, con số nữ tu Mến Thánh Giá tại
Đàng Ngoài đă lên tới là 100 chị em, chia ra nhiều
cộng đoàn khác nhau, theo tài liệu mà Hội Thừa Sai
Paris đă phổ biến ra cho mọi người lúc
đó được rơ[22]
:
«Gần một trăm thiếu nữ
người Đàng Ngoài sống như Thiên Thần trong nhiều
cộng đoàn, dưới tên gọi Chị em Mến
Thánh Giá, mà những kẻ đầu tiên mới chỉ bắt
đầu cuộc sống như họ đang sống vào
năm 1670. Từ thời gian đó, người ta luôn thấy
nhân đức và con số các chị em phát triển lên».
&
Năm 1675, đức cha Pallu xin từ chức
giám quản xứ Đàng Ngoài. Rồi đến năm
1679, thừa sai Deydier và De Bourges được Toà thánh phong
giám mục, hiệu toà Auren và Ascalon, giám quản tông toà xứ
Đàng Ngoài và vương quốc Lào.
./.
[1] Thuyền
trưởng Junet là một thương nhân người
Pháp, buôn bán làm giầu từ nhiều năm rồi trong
vùng Ấn Độ Dương. Nhân một chuyến chở
hàng từ Phi-Luật-Tân về, con tầu của ông gặp
băo nên phải lánh vào Xiêm La. Tại đây, đức cha
Lambert de la Motte biết ông và thuê ông chở ngài đi kinh lư
Đàng Ngoài. (Tài liệu viết tay của cha Deydier : AMEP.
677,96-97).
[2] Tài
liệu viết tay : AMEP. 677, 216. Đăng trong : «Tonkin.
Doc.I», trang 104-105; và trong : «Histoire générale I», trang 145-146. Một
bản viết tay khác : AMEP. 677, 184 : «Lettre à Madame Agnès et à Madame
Paule» (Thư gửi cho Bà Anê và Bà Paola).
[3] Lá
thư đă khởi đầu bằng công thức rất
trang trọng của một giám mục như thế. (Trong
bản dịch Việt ngữ của chúng tôi, «D́ Anê và
Paola» = «Soeurs Agnès et Paule»). Một bản dịch Việt ngữ
lá thư này được đăng trong : «Đức
cha», trang 60-61.
[4] Lesley
là linh mục người Tô Cách Lan, đến tỵ nạn
tại Roma từ quăng năm 1639, rất được các
đức cha Pallu và Lambert de la Motte tín nhiệm và nhờ cậy
trong các vấn đề tại Toà thánh. Dù chỉ là một
linh mục thường, ngài có nhiều quan hệ rộng
răi trong giáo triều Roma.
[5] Tài
liệu viết tay : AMEP. 858, 189; 876, 631. Đăng trong : «
[6] Tài liệu
viết tay : AMEP. 107, 245 62. Đăng
trong : «Tonkin. Doc.I», trang 105 : «Instructions pour les procureurs des
affaires de la mission de la Chine, Cochinchine, Tonkin, tant en France qu’à
Rome, par Mgr Pallu».
[7] Hiệu
toà của đức cha Lambert de la Motte là «Béryte»(tiếng
Pháp) hay «Bêritê» (theo sách «Phép nhà chị em Mến Câu rút Đức
Chúa Jêsu», Kẻ Sở 1907).
[8] Xem
A.Launay : «Lettres de Mgr Pallu I», (sách đă dẫn), trang 139-144 :
«Instructions pour les procureurs...»
[9] «Les
choses n’en
sont pas là, et si on le prétendait, on se trouverait bien éloigné de son compte. Ce n’est qu’une simple
congrégation comme il y en a beaucoup en Europe».
[10] A.Launay : «Lettres de Mgr Pallu I» (sách đă
dẫn), trang 151-159 : «Instructions pour Monsieur l’abbé Sevin...».
[11] «Xin cho các thày giảng : tất cả
những ân xá thường và
đặc biệt, vào ngày phong thánh Pierre d’Alcantara và
Magdelaine de Pazzi; và hơn nữa, ân oàn xá cho ngày họ
được nhận vào và những ngày lễ Thánh Giuse và
Thánh Phanxicô Xavier». (A.Launay : «Lettres de Mgr Pallu I», trang 152).
[12] Tài
liệu viết tay : AMEP. 204, 461; 278, 97. Đăng trong : «
[13] Chính trong hoàn
cảnh này mà dân chúng Đàng Ngoài quen gọi cha François Deydier
là «Thày Phan» hoặc «Tài Phan», và cha Jacques de Bourges là «Thày Gia»
hoặc «Tài Gia».
[14] Gọi là «thương
điếm», nhưng sự thực là hai cha làm nhà để
ở và coi được như «trụ sở» của các
ngài. - Muốn biết thêm về Phố Hiến («Thứ nhất
Kinh kỳ, thứ nh́ Phố Hiến»), xem : «Etudes
Vietnamiennes», số 40 - 4/1993, (Hà Nội).
[15] Tức những
người đă lấy vợ lấy chồng trái với
luật Giáo Hội.
[16] Ư muốn nói
các bổn đạo Đàng Ngoài sẽ chẳng thua kém chi
các bổn đạo Âu Châu. (Tài liệu viết tay : AMEP.
677, 215).
[17] Trích thư
thừa sai Jacques de Bourges gửi cho anh ḿnh đăng trong :
«
[18] Thư này nhận
được ở
[19] «Relation
de ce qui s’est passé au Tonkin par M. de Bourges». Tài liệu viết
tay : AMEP. 677, 245. Đăng trong : «
[20] Tài liệu
viết tay : AMEP. 677, 416. Đăng trong : «
[21] Tài liệu
viết tay : AMEP. 651, 54. Đăng trong : «
[22] «Relation
des missions et des voyages des evesques... 1676 et 1677», (C.Angot - Paris
1680), trang 115.
./.