chương ba

 

Tại Đàng Ngoài :

sau ngày thành lập

 

 

Trong chuyến kinh lư tại Đàng Ngoài, đức cha Lambert de la Motte đă thực hiện ba chuyện quan trọng : phong chức linh mục cho 7 thày giảng, họp công đồng Phố Hiến và thiết lập ḍng nữ Mến Thánh Giá.

Ngày 19.2.1670, ngài rời xuống thuyền trên sông để ra cửa biển. Gặp thời tiết không thuận, con thuyền chở ngài và thừa sai Bouchard phải nằm chờ măi đến ngày 14.3.1670 mới ra khơi. Vẫn là con thuyền buôn của ông Junet người Pháp đă chở các ngài từ Xiêm La sang.[1]

 

Lợi dụng những ngày c̣n lại tại Đàng Ngoài, đức cha viết lá thư sau cho hai chị nữ tu đầu tiên của ḍng Mến Thánh Giá[2] :

«Phêrô Lambert, nhờ ơn Chúa và Toà thánh tông đồ, giám mục Bêritê, Giám quản tông toà, gửi quư d́ thân mến Anê và Paola là những người đầu tiên đă nhận ḍng Chị em Mến Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô, lời chào và phép lành.[3]

Cha đă ao ước được chuyện tṛ với chúng con sau khi chúng con đă tuyên thệ những lời khấn một cách công khai ngày Lễ Tro, trước sự hiện diện của cha, để nói cho chúng con một vài điều nữa về sự cao sang trong địa vị chúng con và về sự trọn lành mà ḷng nhân từ của Thiên Chúa đă gọi chúng con vào; nhưng, v́ bắt buộc phải ra đi hôm đó để c̣n trở về, cha đă có ư viết cho chúng con lời này mà răn bảo chúng con rằng chúng con không c̣n thuộc về ḿnh nữa, song hoàn toàn thuộc về Chúa Giêsu Kitô. Chúng con đă tận hiến ḿnh cho Người, hầu từ nay trở đi chỉ c̣n chuyên cần lo hiểu biết Người và yêu mến Người, bằng sự nguyện ngắm và bắt chước đời sống đau khổ của Người và bằng cách tuân giữ những nghĩa vụ của Hội ḍng chúng con. Cha khuyến khích chúng con hết sức cha có thể, hăy trung thành với những nghĩa vụ của Hội ḍng chúng con, biết rằng nhờ đó mà chúng con và toàn thể Giáo hội này sẽ nhận được lợi ích lớn lao. Cha cũng dặn ḍ chúng con một cách riêng phải vô cùng lo lắng cho các chị em tập sinh của chúng con mà chúng con phải xem họ như những của thánh mà Thiên Chúa đă đặt để trong bàn tay chúng con. Chúng con hăy nhớ thường xuyên dạy bảo họ mục đích chính của Hội ḍng chúng con là tiếp tục đời sống đau khổ của Chúa Giêsu Kitô nơi họ và hằng ngày xin Người, qua những lời nguyện, nước mắt, công việc, hy sinh của chúng con, ơn trở lại cho những kẻ ngoại đạo và những Kitô hữu bê bối. Nhưng cực kỳ quan hệ là thực hiện mọi sự ở cương vị của Chúa Giêsu Kitô : Người muốn chính ḿnh làm mọi sự ấy và v́ không thể được, nên Người dùng đến một số kẻ đă được tuyển chọn mà Người ban đầy tràn tinh thần Đấng Trung Gian hầu tiếp tục như vậy cuộc đời lữ hành và hy sinh của Người cho đến thời kỳ cùng tận. Các d́ thân mến, chúng con thấy đó sự cao sang của ơn gọi chúng con và chúng con đă chết cho thế gian; nghĩa là chết cho các giác quan, bản tính và lư trí con người, để từ nay chỉ c̣n sống theo những lời dạy, những việc làm và cuộc đời Chúa Giêsu Kitô. Cha xin chúng con hăy cứ suy nghĩ về sự ấy và đừng quên cha trước mặt Thiên Chúa.

Tại cửa biển xứ Đàng Ngoài, ngày 26.2.1670».

 

Bức thư trên, cũng như những ǵ đức cha Lambert de la Motte đă soạn thảo khi lập ḍng nữ Mến Thánh Giá, thể hiện tính rất khổ hạnh nơi tinh thần tu đức của ngài : «Chúng con đă chết cho thế gian : chết cho các giác quan, bản tính và lư trí con người». Đi theo con đường thiêng liêng ngài vạch ra là phải hoàn toàn «thoát tục».

 

Trở lại chuyến đi của ngài : ngài về đến Xiêm La vào đầu tháng năm năm đó, 1670. Rồi vào tháng mười, ngài viết gửi đức giáo hoàng bài phúc tŕnh về chuyến đi Đàng Ngoài của ngài. Nhân dịp này, ngài cũng gửi cho linh mục Lesley[4] tại Roma một lá thư riêng[5]. V́ vẫn chưa hay biết ǵ về quyết định tại Roma, ngài vui mừng và hănh diện cho linh mục Lesley biết :

«... Giữa 2 thừa sai Pháp của chúng ta, 9 linh mục bản xứ, 48 thày chức nhỏ mà tôi đă truyền, và các chủng sinh, tất cả hợp thành một cộng đoàn lớn, chẳng có chút ǵ là «của tôi» hay «của anh»; họ sống theo như cách thức đă hướng dẫn của công đồng (Phố Hiến) mà tôi đă gửi về Roma.... Một vài goá phụ đạo đức đă quy lập những nền tảng đời sống tu tŕ trong vương quốc này, sẽ không thua kém ǵ đâu. Sau khi xem xét ơn sủng của họ, hướng chiều của họ, đường lối Thiên Chúa dẫn dắt họ và những thực hành của họ từ mấy năm rồi, tôi đă ban cho họ những quy luật mà tôi gửi sang Toà thánh, để tŕnh ra chịu khảo duyệt, và xin được chuẩn nhận nếu Toà thánh xét là được.

Tôi lợi dụng dịp này để xin Đức Giáo Hoàng ưng nhận một Hội ḍng các kẻ Mến Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta mà tôi đề nghị ra, sau khi biết ḷng rất đạo đức của giáo dân nơi những miền này là tỏ ra ḷng biết ơn đối với cái chết cùng sự thương khó của Chúa Cứu Thế mọi người.

Tôi mong cha, v́ t́nh yêu của cha đối với Chúa, hăy làm việc hầu xin được nơi Toà thánh sự chuẩn nhận quy luật ấy, bản này và bản kia, với các ân xá nhiều nhất mà cha có thể, cho những người nam và nữ sẽ thực thi những quy luật ấy; những ân xá có thể được dành giảm bớt sự đau khổ của các linh hồn nơi luyện ngục.

Tại Xiêm La, ngày 20.10.1670».

 

Việc chuẩn nhận của Toà thánh Roma là sự quan trọng. Đức cha Lambert de la Motte rất ư thức điều đó nên trông cậy linh mục Lesley, vốn thân cận với các hồng y tại giáo triều, giúp đỡ. Ngay cả đức cha Pallu, trên đường trở lại Xiêm La, khi hay tin chuyến kinh lư và kết quả của đức cha Lambert de la Motte tại Đàng Ngoài, đă viết thư dặn ḍ các vị đại diện Hội Thừa Sai của ngài tại Pháp cũng như tại Roma rằng[6] :

 

«Về chuyện các chị em Kitô hữu nhiệt thành mà đức cha Béritê[7] đă quy tụ lại với nhau dưới một số quy luật và họ đă tuyên thệ ba lời khấn đơn là khiết tịnh, khó nghèo và vâng lời, phải rất lưu tâm mà chớ xin sự nh́n nhận Hội ḍng này như một ḍng tu mới. Các sự việc không nằm tại đó đâu, và nếu người ta cứ chủ trương như thế, sẽ thấy ḿnh c̣n rất xa với sự thể. Đây chỉ là một tu hội đơn thuần giản dị như đă có rất nhiều ở Âu Châu; Hội ḍng ấy như thế nào th́ phải tŕnh bày ra như thế ấy dưới con mắt của Toà Thánh, để Toà Thánh c̣n thêm, bớt hay sửa đổi những ǵ theo sự xét xử của Toà Thánh .

Về cách thức, tôi nhận định là nên xin các ân xá cho Hội ḍng các thiếu nữ mà đức cha Béritê đă thiết lập tại xứ Đàng Ngoài : các chị em có ba lời khấn đơn, có các nghĩa vụ này nọ, có các quy luật này nọ. Trong việc này, hăy tuân giữ những ǵ người ta quen làm tại Roma để thành lập những hiệp hội mới. Các ân xá nên xin sẽ là : ân toàn xá cho ngày vào ḍng và ngày tuyên khấn, và tất cả những ân xá đă được ghi trong các thể thức b́nh thường và đặc biệt».

 

Những lời trên chỉ là một đoạn nhỏ trong lá thư đức cha viết tại Surate, ngày 11.11.1671, quăng mấy tháng sau khi nhận được tin tức từ Xiêm La về đức cha Lambert de la Motte cũng như tin thừa sai Chevreuil bị giới cầm quyền Bồ Đào Nha bắt tại Macao và cầm tù bốn năm tháng trời tại Goa, Ấn Độ. Lá thư rất dài của ngài cho nh́n thấy t́nh trạng hiểu lầm khá lớn giữa Hội Thừa Sai tại Paris đối với đức cha Lambert de la Motte tại Xiêm La, một phần lớn do thái độ rất cứng rắn của đức cha Lambert de la Motte trước các tu sĩ thừa sai tại Đông Nam Á, đặc biệt ḍng Tên[8]. Đức cha Pallu luôn t́m xây dựng hoà giải đôi bên, nhưng cũng nh́n nhận : «Về lối cư xử của ngài (đức cha Lambert de la Motte) đối với các cha ḍng Tên, tôi tin là có sự quan pḥng của Chúa. Tại những miền đó, các cha ḍng Tên chắc chắn là cần một người như ngài, đủ dũng cảm, đủ can trường và đủ sức mạnh để kháng cự lại trước mặt họ và đối đầu lại với họ. Tôi hy vọng rằng sự ấy sẽ tạo cho họ điều thiện hảo và công tŕnh của chúng ta sẽ được xây dựng tốt hơn».

Nhưng công việc lúc đó không chỉ là «kháng cự» hoặc «đối đầu»; trái lại, đức cha Pallu ư thức sự thể, nhất là sau kinh nghiệm tại Roma và Âu Châu vừa qua, cách riêng liên quan tới dự án «Hội ḍng tông đồ» bị bác bỏ. Bởi thế, ngài đă dặn : «Các sự việc không nằm tại đó đâu, và nếu người ta cứ chủ trương như thế, sẽ thấy ḿnh c̣n rất xa với sự thể. Đây chỉ là một tu hội đơn thuần giản dị như đă có rất nhiều ở Âu Châu».[9]

 

Công việc rao giảng Phúc Âm tại khu vực Ấn Độ Dương lúc đấy không đơn giản. Bởi vậy, chưa đặt  chân trở lại địa sở ḿnh, đức cha Pallu đă phải cho thừa sai Charles Sevin quay gót về Paris và Roma để, một lần nữa, t́m giải quyết mọi sự rắc rối tại địa phương. Ngài cẩn thận chỉ dẫn thừa sai Sevin mọi sự sẽ cần phải làm[10]. Liên quan tới ḍng Mến Thánh Giá mới lập tại Đàng Ngoài, đức cha dặn :

«Đề nghị (với Toà thánh) hiệp hội và đoàn thể của nhiều quả phụ và thiếu nữ tốt lành đă lập thành tại xứ Đàng Ngoài theo những phép tắc mà đức cha Bêritê đă vạch ra cho họ, và thỉnh cầu cho họ cùng những đặc ân và những ân xá như đă ghi cho các thày giảng».[11]

Cha Sevin đến Pháp tháng 8.1672, rồi sang Roma đầu năm 1673. Tại Paris, tiếng tăm của đức cha Lambert de la Motte không được mấy tốt đẹp, nhất là về phía các tu sĩ ḍng Tên; nhưng tại Roma, Thánh bộ Truyền bá Đức tin công khai khen ngợi và hậu thuẫn thái độ cứng rắn của đức cha đối với các tu sĩ thừa sai tại địa phương.

 

Thời gian trôi qua, măi đến năm 1678, ngày 28 tháng tám, mới có sắc lệnh của Thánh bộ Truyền bá Đức tin ban các ân xá cho những Kẻ Mến Thánh Giá.[12]

 

&

 

Tại Đàng Ngoài : kể từ lúc đức cha Lambert de la Motte về Xiêm La, Hội ḍng Mến Thánh Giá ra sao ?

Ra đi, đức cha đă để lại một thừa sai người Pháp, cha Jacques de Bourges, bên cạnh thừa sai Deydier. Và số các linh mục bản xứ lúc đó là 9 vị.

Hai thừa sai Pháp ở Đàng Ngoài vẫn ăn mặc như người thường và vẫn xưng ḿnh ra với xă hội bên ngoài như thương nhân người Pháp[13]. Nhờ đó, chúa Trịnh cho phép lập thương điếm tại Phố Hiến.[14]

Thừa sai De Bourges, trong cái nh́n mới mẻ của một người mới đến Đàng Ngoài, đă cho cảm tưởng : «... Chúng tôi nh́n mà thán phục những kẻ đă lập gia đ́nh rồi mà sẵn ḷng rời nhau để chỉ chuyên cần cho duy nhất một Thiên Chúa[15], giữ tiết hạnh trọn đời. Chúng tôi được an ủi thấy nhiều phụ nữ nhân đức đă làm lời khấn sống chung một đời sống thánh thiện. Nh́n tổng quát về các kẻ có đạo, bảo đảm là họ chẳng thua sự ǵ so với những kẻ (có đạo) sinh tại các nước chúng ta».[16]

Và cha De Bourges lúc đó, sau khi con tầu chở đức cha Lambert de la Motte đi khỏi, liền : «chăm chú không ngừng học tiếng xứ này là thứ tiếng rất khó; em có cái lợi là một trong những giáo sĩ mà em ở cùng rất thông thạo tiếng xứ này : ông ta làm thày dạy cho em».[17]

Cũng trong lá thư đề ngày 19.2.1670 trên[18], thừa sai de Bourges c̣n cho gia đ́nh biết : «Có một số khá đông các quả phụ và thiếu nữ; những người này (dù) chẳng hề biết làm nữ tu là thể nào, đă từ chối chuyện hôn nhân và từ nhiều nơi khác nhau đă tụ họp lại sống chung cùng nhau để bảo tồn ân sủng Kitô giáo và chuyên chú vào việc cầu nguyện cùng các công việc từ thiện. Nói tắt một lời, ở đây gặp được điều mà anh đă có thể đọc được trong lịch sử những sự việc đă thực hiện hồi Giáo Hội khai sinh...»

Trong bản tường tŕnh năm 1670 về Paris, thừa sai De Bourges có nói về Hội ḍng Mến Thánh Giá như sau[19] :

«Một bầy các bà góa và thiếu nữ đă khởi sự tuân giữ những quy luật mà đức cha Bêritê đă dựng nên cho họ để bắt đầu một Tu Hội dưới ba lời khấn đơn mà họ sẽ tuyên thệ. Và v́ sợ bị kẻ ngoại khám phá ra, các chị em đă chia nhau ra làm hai nhà. Theo gương của họ, một bà góa tốt lành tên gọi là Lina, 45 tuổi, đă quy tụ trong làng của bà năm hoặc sáu thiếu nữ để theo cùng một lối sống trên. Một trong các cô của bà Ursula, tên là Catherina, đă được rửa tội ba năm trước, hết ḷng nài xin cho được nhận vào số các nữ tỳ này của Chúa. Cách đây sáu tháng, cô ấy cứ giục cha Deydier hăy tiếp nhận cô ta, mặc kệ những lời van nài của cha mẹ để gả cưới cô ta và nhất là lời của chị cô ta đă lấy ông anh cả nhà vua. Nhưng v́ e ngại rằng cô ta sẽ làm lộ cái Hội thánh thiện này ra v́ cha mẹ cô sẽ đi t́m kiếm cô ta, nên người ta thấy là không tiện tiếp nhận cô ta được.

Nhiều kẻ khác nữa cũng nài van như vậy, nhưng thời gian này thật là hiểm nghèo; nếu Chúa vui ḷng cho cơn bắt đạo này dừng lại, th́ chẳng mấy chốc sẽ thấy những tu viện được xây dựng lên và nhiều tâm hồn tốt lành sẽ gia nhập mà theo đuổi đời sống tu tŕ».

 

Phần thừa sai Deydier, trong thư gửi cho Thánh bộ Truyền bá Đức tin tại Roma, ngài  cũng có nhắc đến các chị em Mến Thánh Giá bằng những lời này[20] :

«Ngày 16.10.1673

Tuy chúng con không bỏ rơi các Kitô hữu  đến với chúng  con, nhưng chúng con nghĩ là phải đặt nhiệm vụ chính lo vấn đề cải tổ và xây dựng hàng giáo sĩ nhỏ bé của chúng con. V́ lẽ đó, chúng con xây một căn nhà vắng nhỏ mọn bên cạnh ngôi nhà của chúng con làm nơi tĩnh tâm  cho trên 30 trong số những người đang làm việc với chúng con để  phục vụ cho sứ vụ thừa sai này và cho gần ba chục chị em đồng trinh của chúng con, các chị Mến Thánh Giá; chị em này và chị em nọ đều đă rút tỉa được ích lợi đáng kể cho sự học hỏi và tiến bộ của họ».

 

Mấy năm sau đó, trước sự phát triển của Hội ḍng Mến Thánh Giá, thừa sai Deydier đă có một quyết định cá nhân rất đáng ca ngợi như chúng ta sẽ thấy trong lá thư ngài gửi cho chị ngài như sau[21] :

«Ngày 02.12.1677

Về chuyện chị bảo đảm với em rằng gia đ́nh sẽ trả cho em số tiền 900 hay 1.000 phật lăng là số lời do khoản tiền cấp dưỡng mà gia đ́nh ban cho em theo mọi quyền bên nội và bên ngoại của em, tựa như ưng thuận của em với ông anh em, chồng của chị.

Em có thể xác định thành thực với chị rằng em không yêu cầu một số tiền gấp đôi để dùng mà sinh sống đâu, cho dù số tiền mà em tiêu dùng ở đây trong việc thừa sai của chúng em lên tới gấp hai lần số tiền cấp dưỡng mà em đă lượng tính vào việc ấy.

Tuy vậy, em rất mong có được số tiền trên để xử dụng vào một công tŕnh đạo đức mà em đă  bắt đầu là một hội ḍng các phụ nữ và các thiếu nữ sống chung với nhau theo một quy luật khá nghiệm ngặt. Họ không có khoản tiền nào khác để sinh sống hơn là những ǵ họ thu hoạch được bằng mồ hôi đổ ra trên khuôn mặt họ. Điều ấy làm cho họ lệch lạc các việc tinh thần không ít và khiến họ liều ḿnh vào lắm thứ sao nhăng.

Dẫu chẳng thật lớn lao ǵ, số tiền cấp dưỡng của em có lẽ cũng dùng để cấp cho họ được một phần vào việc họ sinh sống, bằng cách xử dụng làm nguồn lợi đất đai nào đó, bởi v́ đất cát ở đây rất là rẻ.

Chị kính mến, đó là nguyên do mà em muốn có được số tiền trên trong tay ḿnh».

 

&

 

Vào năm 1677, tức bảy năm sau ngày thành lập, con số nữ tu Mến Thánh Giá tại Đàng Ngoài đă lên tới là 100 chị em, chia ra nhiều cộng đoàn khác nhau, theo tài liệu mà Hội Thừa Sai Paris đă phổ biến ra cho mọi người lúc đó được rơ[22] :

«Gần một trăm thiếu nữ người Đàng Ngoài sống như Thiên Thần trong nhiều cộng đoàn, dưới tên gọi Chị em Mến Thánh Giá, mà những kẻ đầu tiên mới chỉ bắt đầu cuộc sống như họ đang sống vào năm 1670. Từ thời gian đó, người ta luôn thấy nhân đức và con số các chị em phát triển lên».

 

&

 

Năm 1675, đức cha Pallu xin từ chức giám quản xứ Đàng Ngoài. Rồi đến năm 1679, thừa sai Deydier và De Bourges được Toà thánh phong giám mục, hiệu toà Auren và Ascalon, giám quản tông toà xứ Đàng Ngoài và vương quốc Lào.

 

./.

 

<<<<< về trang đầu tiên <<<<<

 



[1] Thuyền trưởng Junet là một thương nhân người Pháp, buôn bán làm giầu từ nhiều năm rồi trong vùng Ấn Độ Dương. Nhân một chuyến chở hàng từ Phi-Luật-Tân về, con tầu của ông gặp băo nên phải lánh vào Xiêm La. Tại đây, đức cha Lambert de la Motte biết ông và thuê ông chở ngài đi kinh lư Đàng Ngoài. (Tài liệu viết tay của cha Deydier : AMEP. 677,96-97).

[2] Tài liệu viết tay : AMEP. 677, 216. Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 104-105; và trong : «Histoire générale I», trang 145-146. Một bản viết tay khác : AMEP. 677, 184 : «Lettre à Madame Agnès et à Madame Paule» (Thư gửi cho Bà Anê và Bà Paola).

[3] Lá thư đă khởi đầu bằng công thức rất trang trọng của một giám mục như thế. (Trong bản dịch Việt ngữ của chúng tôi, «D́ Anê và Paola» = «Soeurs Agnès et Paule»). Một bản dịch Việt ngữ lá thư này được đăng trong : «Đức cha», trang 60-61.

[4] Lesley là linh mục người Tô Cách Lan, đến tỵ nạn tại Roma từ quăng năm 1639, rất được các đức cha Pallu và Lambert de la Motte tín nhiệm và nhờ cậy trong các vấn đề tại Toà thánh. Dù chỉ là một linh mục thường, ngài có nhiều quan hệ rộng răi trong giáo triều Roma.

[5] Tài liệu viết tay : AMEP. 858, 189; 876, 631. Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 111. Một bản dịch Việt ngữ toàn lá thư này được đăng trong «Đức cha», trang 62-63.

[6] Tài liệu viết tay : AMEP. 107, 245 62. Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 105 : «Instructions pour les procureurs des affaires de la mission de la Chine, Cochinchine, Tonkin, tant en France qu’à Rome, par Mgr Pallu».

[7] Hiệu toà của đức cha Lambert de la Motte là «Béryte»(tiếng Pháp) hay «Bêritê» (theo sách «Phép nhà chị em Mến Câu rút Đức Chúa Jêsu», Kẻ Sở 1907).

[8] Xem A.Launay : «Lettres de Mgr Pallu I», (sách đă dẫn), trang 139-144 : «Instructions pour les procureurs...»

[9] «Les choses n’en sont pas là, et si on le prétendait, on se trouverait bien éloigné de son compte. Ce n’est qu’une simple congrégation comme il y en a beaucoup en Europe».

[10] A.Launay : «Lettres de Mgr Pallu I» (sách đă dẫn), trang 151-159 : «Instructions pour Monsieur l’abbé Sevin...».

[11] «Xin cho các thày giảng : tất cả những ân xá thường và đặc biệt, vào ngày phong thánh Pierre d’Alcantara và Magdelaine de Pazzi; và hơn nữa, ân oàn xá cho ngày họ được nhận vào và những ngày lễ Thánh Giuse và Thánh Phanxicô Xavier». (A.Launay : «Lettres de Mgr Pallu I», trang 152).

[12] Tài liệu viết tay : AMEP. 204, 461; 278, 97. Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 108-109.

[13] Chính trong hoàn cảnh này mà dân chúng Đàng Ngoài quen gọi cha François Deydier là «Thày Phan» hoặc «Tài Phan», và cha Jacques de Bourges là «Thày Gia» hoặc «Tài Gia».

[14] Gọi là «thương điếm», nhưng sự thực là hai cha làm nhà để ở và coi được như «trụ sở» của các ngài. - Muốn biết thêm về Phố Hiến («Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nh́ Phố Hiến»), xem : «Etudes Vietnamiennes», số 40 - 4/1993, (Hà Nội).

[15] Tức những người đă lấy vợ lấy chồng trái với luật Giáo Hội.

[16] Ư muốn nói các bổn đạo Đàng Ngoài sẽ chẳng thua kém chi các bổn đạo Âu Châu. (Tài liệu viết tay : AMEP. 677, 215).

[17] Trích thư thừa sai Jacques de Bourges gửi cho anh ḿnh đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 119-120.

[18] Thư này nhận được ở Paris ngày 26.6.1672, tức là hơn 2 năm sau khi viết. (Tài liệu viết tay : AMEP. 677, 227-228). Lá thư này, cha De Bourges viết gửi anh ḿnh, nhưng ngài cũng xin anh ḿnh rằng lá thư này là chung cho tất cả các anh chị em v́ ngài không thể nào viết riêng cho từng người như ngài mong muốn (AMEP. 677, 229).

[19] «Relation de ce qui s’est passé au Tonkin par M. de Bourges». Tài liệu viết tay : AMEP. 677, 245. Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 105-106.

[20] Tài liệu viết tay : AMEP. 677, 416. Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 106.

[21] Tài liệu viết tay : AMEP. 651, 54. Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 106.

[22] «Relation des missions et des voyages des evesques... 1676 et 1677», (C.Angot - Paris 1680), trang 115.

 

./.

 

<<<<< về trang đầu tiên <<<<<