chương bốn

 

Tại Đàng Trong :

lập ḍng nữ Mến Thánh Giá

 

 

Hơn một năm sau khi từ Đàng Ngoài về đến Xiêm La (tháng tư năm 1670), đức cha Lambert de la Motte quyết định đi viếng thăm mục vụ địa phận Đàng Trong (tức Nam Việt) của ngài. Ngài rời Juthia, lên đường ngày 20.7.1671, trên một con thuyền do 4 người đàn ông xứ Đàng Trong điều khiển. Cùng đi với ngài có hai thừa sai Pháp : Vachet và Mahot, và hai linh mục người Đàng Trong : Giuse Trang và Luca Bền.

Thừa sai Guiart mới vừa ở Pháp đến Xiêm La cũng đi theo ngài.

Ngày 23.7, thuyền ra khơi, đến quăng ngày 5.8 th́ gặp băo tố nên  mọi người phải tạm trú trên cạn măi tới ngày16 sau đó mới tiếp tục hải hành.

Tới được Lâm Thuyền là một xứ đạo quăng 800 tín hữu, nhưng đức cha vẫn ở lại trên thuyền. Ngày 1.9 tiếp đó, ngài lên bờ phía tỉnh B́nh Định, dùng đường bộ mà t́m cách lên tới Hội An. Dọc đường đi, ngài bị đầu độc, bệnh tưởng đă không qua khỏi nên phải lănh nhận Bí tích Xức dầu Kẻ liệt từ tay thừa sai Vachet. Thừa sai Guiart kể rằng :

«Đức cha đến tỉnh Nước Mặn th́ ngă bệnh trầm trọng... Chúng tôi đă đưa ngài đến tỉnh Quảng Nghĩa[1]... Đức cha nằm trong vơng phủ kín, c̣n cha Vachet và tôi th́ rất thường trên lưng ngựa. Khi có kẻ hỏi : «Mấy ông ngoại quốc này là ai vậy ?», chúng tôi đáp : «Những lái buôn của chiếc tầu đậu ở Hội An. Họ mới đi mua bán ở mấy tỉnh dưới này». Cứ vậy mà chúng tôi đi giữa thanh thiên bạch nhật, theo sau có hơn 40 người khiêng đồ đạc cho chúng tôi. Sau cùng, chúng tôi đến ẩn trong tỉnh Quảng Nghĩa là nơi tôi để đức cha ở lại trên hai tháng trời. Tôi về lại Hội An này là nơi, sau cùng, đức cha đă tới hơn ba tuần nay rồi».[2]

 

Chính trong thời kỳ dưỡng bệnh này, đức cha Lambert de la Motte đă lập ḍng nữ Mến Thánh Giá tại giáo xứ Đức Mẹ An Chỉ, theo như lời thuật của thừa sai Vachet[3] :

«Chính tại An-si[4], trong lúc cha Guiart đi Hội An sửa soạn mọi thứ cho công đồng, đức cha Bêritê đă thiết lập một Hội ḍng các chị em khấn đức khiết tịnh trọn đời, ở chung với nhau và sống dưới một chị bề trên, mặc  dù họ ăn mặc theo y như kiểu cách đơn giản nhất trong xứ. Đức cha không xét là cần cho họ mang khăn đội đầu, ngài gọi họ là Chị em Mến Thánh Giá, và ngài ban cho họ những lề luật rất thân cận với lề luật mà Thánh François de Sales đă dựng nên cho các nữ tu ḍng Thăm Viếng[5]. Lúc ban đầu này, họ chỉ có tám chị em mà người đứng đầu là em ruột của cha Giuse, linh mục người Đàng Trong, tuổi là 30».[6]

 

&

 

Ngày 15.1.1672, đức cha đến được Hội An và triệu tập một công đồng tại đây.

Ngày 15.2 sau đó, theo đường sông, ngài trở lại Nước Mặn cho đến ngày 29.3 th́ rời Đàng Trong về lại Xiêm La.

 

&

 

Ḍng nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Trong đă được đức cha Lambert de la Motte thành lập làm sao ?

Một vài chi tiết lịch sử mà ngày nay chúng ta c̣n có được về chuyện trên là nhờ bài viết của thừa sai Vachet gửi về Paris và đă được phổ biến cho đại chúng được rơ[7] :

«1672.

Đức cha Bêritê, theo kinh nghiệm, tin rằng bà quả phụ ấy[8] là người đức hạnh và khôn ngoan, đă phán bảo cho bà hay dự kiến của ngài là quy tụ chung lại vài thiếu nữ có ḷng ao ước giữ ḿnh đồng trinh. (Các thiếu nữ ấy) đă cho viết đến ngài ở Xiêm La, mấy năm trước, qua cha Hainques[9], ư định của họ, theo đó họ đă khám phá ra niềm vui được tận hiến cho Thiên Chúa một cách trọn hảo nhất.

Dù phân tán trong nhiều làng mạc, các thiếu nữ ấy đă tụ họp lại, mà chẳng khó nhọc ǵ, để đến gặp gỡ đức cha Bêritê vào ngày mà ngài quy định trước cho họ. Đức cha nói với họ rằng ngài muốn bàn luận với họ việc thực thi ư định của họ và ngài đă cho họ một huấn từ nhỏ bàn về đời sống tinh thần. (Sau đó), các chị em đă đến theo ngày đă đề xướng, tại nơi đă đồng t́nh chọn lựa, cùng với hai bà quả phụ đă rất lớn tuổi. Và sau khi lănh nhận các bí tích Xám Hối, Thêm Sức và Thánh Thể, họ cho biết khá rơ tâm hồn sẵn sàng của họ hầu cho thấy rằng ơn gọi của họ thật thiêng liêng.

Ngay khi xuất hiện trước đức cha, các chị em quỳ rạp trên mặt đất theo kiểu chào kính và nức nở khóc v́ vui mừng; sau đó, giang đôi tay và ngước mắt lên trời, các chị em  cảm đội ơn Thiên Chúa sau cùng đă gửi đến cho họ, một cách kỳ diệu, một con người đă đến giải thoát họ khỏi mọi cạm bẫy thế gian và dạy họ nghệ thuật dâng ḿnh cho Thiên Chúa. Sau hết, họ phủ phục mà tỏ ra sự thỏa măn trọn vẹn cho ḷng ước ao của họ, và rằng họ vui mừng khi được đưa ra khỏi thế kỷ này và nhà cha mẹ của họ hầu sống trong sự thanh tịnh và trong sự trọn lành Phúc Âm.

Đức cha Bêritê hỏi lư do nào đă đưa họ đến ḷng ước ao cách sống này và đồng thời ngài đặt tất cả mọi câu hỏi mà ngài thấy là cần thiết để đo lường ḷng dạ các chị em cùng để nhận biết ư Chúa trên họ. Họ trả lời tất cả mọi sự với một ḷng thanh bạch và khiêm nhượng đến nỗi tất cả những ai đang hiện diện tại đó đều, một phần th́ ngây ngất v́ cách thức hành động của họ, một phần th́ hoàn toàn chân nhận rằng tâm hồn họ đă được dự pḥng bằng sức mạnh ân sủng Chúa.

Vào lúc đó, chúng tôi ngập ch́m trong một ấn tượng sâu sắc mà các chị em ấy tạo nên đến độ tôi không c̣n biết đến bao giờ sẽ có một sự ǵ khiến chúng tôi thiết tha với sự trọn lành riêng của chúng tôi một cách dịu dàng và nồng nhiệt hơn thế nữa. Bởi v́ những lời thần thiêng đó mà chúng tôi nghe được đă đưa tinh thần lên cao hơn cả chính ḿnh và cho nếm vị ngọt ngào khó diễn tả được về Thiên Chúa, thoát khỏi cái t́nh ư nơi mọi sự trần giới này.

Đó là những mối hoan lạc tinh thuần và thánh thiện mà đôi khi Đấng Cứu Chuộc trần gian đă ban cho những kẻ làm việc tông đồ được hưởng nếm. Lúc đó, Ngài vui ḷng cho họ khám phá ra những đường lối mà những kẻ Ngài kén chọn đang được sự khôn ngoan cùng ḷng từ bi ngài dẫn dắt; Ngài cho họ thấu hiểu rằng đó là kết quả mà Ngài ban cho họ như hoa trái riêng nơi những tâm hồn cao cả nhất về sự khiêm nhu, thờ kính, tri ân và t́nh ái thiêng liêng; ḷng sốt mến của những tâm hồn ấy c̣n khiến cảm nhận được cả ra bề ngoài nữa.

Dù ǵ đi nữa, sau một bài giảng dạy dài giờ, đức cha Bêritê đă thán phục mà nh́n nhận sự cao sang cùng sự đồng tâm nhất ư sẵn sàng của các nữ đồng trinh đầu tiên xứ Đàng Trong này. Ngài phán với họ rằng nếu chỉ chiếu theo duy nhất một sự cẩn thận tính con người, th́ ngài không thấy có thể thỏa măn nguyện vọng thánh thiện của các chị em. Và bởi thế, phải cần đến những phương thế siêu nhiên, bằng cách tăng gấp đôi việc  cầu nguyện, việc siêng năng chịu các phép bí tích và việc xem lễ thật nhiều hơn nữa. Ngài truyền cho họ làm tuần cửu nhật kính Đức Trinh Nữ và Thánh Giuse bạn Đức Trinh Nữ và là quan thày của họ.

Trước khi những ngày trên qua đi, đức cha đă được cảm  thấy một cách mạnh mẽ rằng hăy đưa họ ra khỏi nhà cha mẹ họ mà cho họ sống chung với nhau. Nỗi khó khăn là t́m được một nơi an toàn để họ c̣n giữ ḿnh khỏi chuyện cưới gả, ngược lại với tập quán xứ sở họ, mà không bị kẻ ngoại đạo khám phá ra. Và cũng là nơi họ sống theo sự hướng dẫn của một phụ nữ có đạo, mà khôn ngoan cùng đức hạnh, có uy tín che chở họ tránh mọi phiền hà có thể xẩy đến cho họ sau này.

V́ bà Lucia có mọi phẩm tính trên, đức cha Bêritê đă hỏi bà xem bà có ưng ḷng tiếp nhận nơi nhà bà và dưới sự che chở của bà những thiếu nữ trẻ đă đến tŕnh diện với ngài chăng. Bà ta xin ngài cho hai ngày để suy nghĩ về điều ấy.

Hết thời hạn, bà ta thưa với ngài rằng ngài có thể xử dụng tất cả những ǵ thuộc về bà, rằng bà vui ḷng dâng cúng ngôi nhà cùng mảnh đất của bà để tiếp trú những nữ tỳ Chúa Giêsu Kitô và dâng hiến của cải bà mà nuôi dưỡng họ, rằng bà ước ao được sống và chết cùng với họ, miễn sao trong sự thực thi đức vâng lời.

Chúng tôi nhận đồ biếu và sự dâng hiến của bà, không lưu tâm đến những điều ngoại lệ mà ḷng nhún nhường của bà đă thêm vào.[10]

Trước tiên, chúng tôi gửi đến bà năm thiếu nữ mà theo họ sau đó là năm thiếu nữ khác nữa; trong họ, có một chị có thể hướng dẫn tất cả những chị em khác. Hy vọng ngày này qua ngày nọ, con số sẽ phát triển lên.

Và nếu những kẻ sẽ đến với họ trong tương lai cũng đầy công nghiệp như những chị em mà chúng tôi đă biết th́ ngôi nhà của họ chắc chắn sẽ là một ngôi nhà được chúc phúc, là nơi mà Thiên Chúa sẽ được tôn vinh không kém chi nơi những tu viện kỷ luật nhất tại Âu Châu. Bởi chưng, chị em cầu nguyện nhiều, ăn ít, làm việc mọi giờ giấc mà họ không bận trong kinh nguyện và việc hăm ḿnh ép xác. Họ có một chị bề trên mà họ yêu mến và hoàn toàn tôn kính. Họ tuân thủ thật chính xác những quy luật nhỏ mọn nhất đă được ban cho họ. Họ có một ḷng tin tưởng và vâng phục trọn hảo nơi vị linh hướng của họ.

Tóm lại một lời, trong mọi sự, họ chẳng chịu thua những nữ tu nhiệt thành nhất nơi những ḍng tu đă được canh tân hơn hết. Chúng tôi hy vọng rằng những ḍng nước mắt các chị em đổ ra ḍng dă ngày đêm, khi họ với ḷng nhiệt thành nguyện ngắm van xin Thiên Chúa ơn trở lại cho toàn vương quốc, sẽ đón nhận được các ân huệ cần thiết của Ngài hầu đặng hoàn thành một công tŕnh rất đỗi to lớn thể ấy.

Hương thơm nhân đức của các chị em đă kéo đến với họ một phụ nữ trẻ, tuổi 25, mà chồng cô ta đă bỏ cô ta từ hồi cô mới mười sáu tuổi. Cô ta tự thấy ḿnh không xứng đáng được nhận vào với các nữ tỳ của Chúa Giêsu Kitô, đă xin các thừa sai thương cho được cất một cḥi lá bên cạnh nhà ḍng, hầu có thể bắt chước các chị em ít nữa là một phần nào đó, theo sức ḿnh. Chúng tôi đă bằng ḷng chấp thuận lời xin của cô ta, hơn nữa, chúng tôi hay biết là cách đây đă ba năm, cô ta đă được cha Hainques[11] rửa tội, và cô ta đă nghe lời khuyên của ngài mà từ bỏ mọi hăo vọng trần thế này».

 

&

 

Gần hai năm sau ngày thành lập, thừa sai De Courtaulin sau sáu tháng ở Đàng Trong vớii tư cách cha chính địa phận, đă viết cho đức cha Lambert de la Motte về các chị em Mến Thánh Giá như sau[12] :

«Ngày 10.12.1674

Tại Diem-dien, trong nhà bà Lucia, ngày 22 tháng bảy, chúng con gặp hai chị em rất đáng được nói đến trong bản tường tŕnh này. Cả hai đă khấn đức khiết tịnh từ bốn năm rồi : một cô, v́ nhiều lư do chính đáng, đă xin cha Mahot thay đổi lời khấn và cô đă được phép. Ông thân của cô ta là người có đạo trên danh nghĩa hơn là trên việc làm, đă muốn bắt ép cô ta cưới một người ngoại đạo. Cô ta đă rất can đảm từ chối chuyện đó đến độ ông ta dùng gậy đập đánh cô ta khủng khiếp suốt cả giờ đồng hồ. Con là người chứng kiến chuyện ấy bởi v́ nhà ông ta ở liền với nhà thờ.

C̣n cô kia th́ nhất mực kiên tŕ trong quyết định của ḿnh. Tuy nhiên, để tránh cho anh em ḿnh khỏi bị bách bớ v́ đạo, cô ta đă hứa hôn với một người có đạo, nhưng với chủ ư là không lưu tâm chi đến. Sau khi thố lộ cái tội ḿnh ra, cô ta được bà mẹ đồng t́nh cho từ chối chuyện cưới gả và c̣n cho ǵn giữ sự đồng trinh của ḿnh. Nhưng cô ta sẽ c̣n một thử thách khác nữa phải chịu về phần các anh em của cô ta : từ đây đến hai hoặc ba tháng nữa, chàng hôn phu của cô ta sẽ trở về. Dẫu vậy, cô ta đă hứa là cô ta sẽ trốn vào Quảng Nghĩa sống ẩn kín với các nữ đồng trinh đang sống ở đó và cha Mahot đă ưng thuận chuyện này. Đây là một cô gái có bản chất riêng rất khá và giầu có về phần riêng cô ta.

Chúng con đến nhà ông Thomas Đa[13], thăm viếng các chị em đồng trinh đang kiên tŕ trong đời sống ẩn dật của họ. Hiện tại họ chỉ có 11 người, v́ người thứ 12 đă bắt buộc phải trở về nhà ông thân của cô là một lương y, bởi v́ cô ta bị rơi vào một chứng tê liệt. Nay cô ta đă khỏi được một phần. Cô ta có ư trở lại nhà ḍng sau khi được chữa lành.

Ôi, thật là nên mơ ước làm sao mà t́m được cách, với phép của vua ban cho chuyện này, đưa sang đây được một phụ nữ rất đức hạnh có ḷng muốn dẫn dắt các cô gái này. Về mặt luân lư, con chắc chắn rằng các cô sẽ đi ngang hàng với các nữ tu đă được tân cải nhất của nước Pháp. Nhưng v́ chỉ có một chị bề trên người bản xứ ít hiểu biết trong các vấn đề tâm linh đạo lư, họ ở trong một sự dốt nát đáng thương hại. Đây là một điều xấu  mà hiện tại xem ra chẳng có phương cách nào chữa trị được, trừ phi Thiên Chúa mở ra con đường bí ẩn nào đó.[14]

Ôi lạy Chúa Giêsu nhân hậu, này là những trinh nữ đang đợi trước cánh  cửa nhà Ngài với đèn đă chuẩn bị ; họ sẵn sàng để bước vào ngay khi nào Ngài mở ra cho họ con đường trọn lành. Tuy nhiên tôi khá e sợ rằng những kêu ca đồn thổi của kẻ ngoại sẽ làm phân lạc đoàn chiên này ; bởi chưng, chúng đă đe dọa tàn phá nhà cửa của họ, điều mà họ có thể thực hiện ngay cả bằng con đường luật pháp, miễn sao họ hăy làm sự ấy theo ư kiến chung của làng xóm, đừng t́m chạy chọt tới quan lại địa phương».

 

Một chuyện khác được thừa sai Vachet kể :[15]

«Năm 1674.

Có một thiếu nữ từ Bầu Nghè ra t́m cha Mahot vào kỳ cuối tháng chạp. Cô thưa với ngài rằng cô đă bỏ nhà cha cô v́ cha cô ép uổng cô vào cuộc đời thế gian này. Năm ngoái cô cũng đă làm như vậy, trong dự tính đến cùng các thiếu nữ đang sống chung với nhau tại Quảng Nghĩa; cô có ḷng tinh tuyền trọn vẹn và luôn ước ao sự trọn lành nơi các thiếu nữ Quảng Nghĩa ấy. Nhưng sau đó, cô trở về nhà cha mẹ, hy vọng người ta sẽ không c̣n nói với cô ta ǵ nữa. Và khi cô thấy người ta lại bắt đầu quấy rầy ḿnh, cô đă trốn đi một lần thứ hai, nhất định không c̣n bao giờ đặt chân trở lại nhà cha mẹ cô ta nữa, mà ra đi sống ẩn ḿnh như những người cùng phái khác đă tận hiến cách đặc biệt cho Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đanh.

Người tôi tá ấy[16] của Thiên Chúa đă lắng nghe cô nói với niềm vui lớn. Nhưng hay cô mới có 17 tuổi, ngài sợ rằng cô c̣n quá trẻ để thực hiện được ư định của cô; v́ trong xứ này, người ta không thể nào quá cẩn thận khôn ngoan được để mà thử thách mọi thứ ơn gọi đặc biệt, hiếm có. Ngài đành tâm ḍ xét đôi chút ḷng dạ cô theo các lư lẽ của cô và đặt để cô trong tay một quả phụ quen biết cho tới lúc ngài được lời phúc đáp cho lá thư mà ngài đă viết đến cha của cô; trong thư, ngài đă cho cha cô hay nơi cô đang ở và xin ông đến nhận lại cô mà chưa hề nói với ông ta tới chuyện nhà ḍng nào.

Ba hôm sau, người cha ấy là một kẻ thế giá, đích thân đến cùng vợ ḿnh để đáp lại cái lịch thiệp của cha Mahot. Cả hai cùng nói với ngài rằng họ vô cùng cảm ơn ngài đă săn sóc con gái họ, rằng họ không hề muốn cưới gả con gái họ ngoài ư muốn của cô. Họ nói cô ta có thể tu tại nhà họ, và họ vui ḷng để cô tập đọc chữ Âu Châu[17], và ngay cả để cho cô vào cộng đoàn các chị em Mến Thánh Giá là chuyện chính họ đă khơi  ra đầu tiên. Bởi v́ cha Mahot không nghĩ là họ có thể cảm được lối sống ẩn dật này, đă xét là không nên nói ǵ với họ về chuyện này cả. Nhưng v́ thấy họ có đầy thiện chí như thế, ngài hết ḷng khen ngợi nhân đức của họ. Và ngài tuyên bố cho họ rơ rằng Thiên Chúa không có đ̣i hỏi họ sự hy sinh đó đâu, rằng con gái của họ không đủ tuổi, phải để ḷng ước ao của cô lớn lên qua thời hạn, họ chỉ cần một sự là đừng làm cô đi sai lạc cái quyết tâm rất cao sang của cô bằng cách dùng quyền thế ḿnh mà bắt cô lấy chồng. Họ đă phải hứa rằng họ sẽ đối xử với cô như thể ấy.

Cô gái th́ lại chẳng thể nào tin vào sự ấy được, nói với cha Mahot trước mặt cha mẹ cô rằng : «Thưa cha, con vâng lời v́ cha đă truyền cho con; nhưng khi con vâng lời th́ cha khổ tâm lo sợ cho t́nh trạng nơi con ở, con thấy như vậy. Người ta có thể sẽ để con yên đôi ba tháng trời, rồi sau đó có thể người ta sẽ ép uổng con, ngoài ư muốn của con, phải làm sự mà con không muốn. Con biết là hiện giờ không phải là ư của cha mẹ con, nhưng cha có thể trả lời cho con về tương lai không? Con trao phó cho cha tất cả mọi sự xảy ra để chính cha phải xin cho con ơn bền đỗ, bởi v́ chính cha đă đặt con vào nguy cơ làm mất ơn kêu gọi của con».

Phải thú thật rằng cha Mahot lấy làm kinh ngạc và đồng thời cũng thấu hiểu tinh thần cứng rắn của cô gái. Nhưng sau cùng, ngài vẫn dứt khoát theo ư của ngài. Sau khi hết ḷng yên ủi và trấn an cô trong khả năng của ngài, ngài rời họ để đi chuẩn  bị các bổn đạo mừng lễ Giáng Sinh mà người ta sẽ cử hành ngày hôm sau đó. Ngài làm lễ Nửa Đêm trong một nhà thờ chật ních người, chẳng những là kẻ b́nh dân mà ngay đến nhiều kẻ thế giá cũng lănh nhận các bí tích như những người khác. Ngài làm lễ Rạng Đông chỗ người Nhật[18], và ngài đi làm lễ Ban Ngày ở một nơi khác khá xa, chỗ ấy người ta cũng trông chờ ngài với một ḷng nhiệt thành như vậy».

 

Sang năm  1675, thừa sai De Courtaulin lại viết về Xiêm La cho đức cha Lambert de la Motte rằng[19] :

«Năm 1675

Từ lá thư sau cùng mà con hân hạnh viết cho đức cha hồi con ở Quảng Nghĩa, vào quăng ngày mồng 7 hay mồng 8 tháng chạp năm 1674, con ở nhà thày giảng Tiệc[20], nói ngay ra, là thày giảng duy nhất ở xứ Đàng Trong và làm nghĩa vụ thày giảng. Ở đó, con rất bận việc vào chiều thứ bảy và ngày thứ bảy sau đó.

Trong khoảng thời gian này, con thăm lại nhà ḍng các thiếu nữ tại Bô Tay[21], chỗ nhà ông Tô-me Dạ[22]. Con vào nhà ḍng và bảo đọc bản luật mà đức cha đă lập nên ở đó. Con hỏi thăm bà bề trên và các chị em xem tất cả mọi điểm có được tuân giữ chính xác chăng. Con không thể hiểu rơ chút nào. Con hay lén vào nhà thờ, ba hoặc bốn lần con nghe được những tiếng cười kém phẩm cách; mặt khác, việc nguyện ngắm của họ rất vắn gọn, mà nói cho ngay ra, chỉ là một bài đọc đơn giản về đề tài suy niệm. Hỏi họ về những sự đạo đức, con để ư thấy là cả một sự mù mờ thật lớn. Tất cả sự ấy, lại thêm vào những lời nài xin da diết và phiền toái của bà bề trên với con cho được ra khỏi nhà ḍng khiến con đâm nghi ngờ về cái bê bối nào đó trong nhà ḍng này. Sự này làm con phải tăng gấp đôi lời cầu xin cùng Thiên Chúa soi sáng tâm trí con cho được khám ra tất cả sự dữ và đem thuốc chữa thích hợp lại.

Thiên Chúa đă nhận lời con xin : con sau đă khám phá ra rằng nhà ḍng này đang ở bên bờ vực sâu. Việc nguyện ngắm và tĩnh tâm chỉ làm cho có làm. Người ta ở đây đă gần như quên hẳn những hiến chương của đức cha (đă ra); chẳng c̣n làm việc đền tội; chỉ nghe những lời phàm tục, những tiếng cười lanh lảnh và vô đức vô hạnh;  đàn ông con trai vào ra khi nào họ thích. Và ngay cả bà bề trên c̣n báo cho con hay rằng các ông giải trí vui đùa với các chị em đến độ sờ mó cả vào tay vào chân của các chị em, điều đó ở xứ Đàng Trong này là thứ gợi đầu đưa ngay tới chuyện dâm dật hoàn toàn. Sự này con chỉ được bà bề trên thú ra sau bốn hay năm ngày làm việc và canh thức cầu nguyện. Cái tệ hại hơn cả là chẳng c̣n sự tùng phục hay vâng lời nào đối với bà bề trên.

Với các sự xấu xa này, con tin là Thiên Chúa đ̣i con phải khởi sự chữa chạy cái xấu sau cùng này là nguồn ngọn mọi sự xấu khác. Con nh́n ra, qua các lần nói chuyện thường xuyên với bà bề trên, rằng sự thực bà ta là người kém hiểu biết và mộc mạc thô kệch, tuy là một tâm hồn được kém chọn : ḷng kính sợ Thiên Chúa, một đức vâng lời triệt để, một đức khiêm nhượng và bác ái không thể so b́ nổi, đă làm bà nên cao trọng trước mặt Thiên Chúa đến độ bà thành kẻ đáng khinh đáng dể đối với chính ḿnh bà cũng như đối với các chị em.

Con bắt đầu bằng việc yêu cầu bà cho con vài ngày để xem con sẽ cho phép bà rời khỏi nhà ḍng hay không. Điều này đă khiến các chị em sợ hăi, bởi v́ các chị em dù coi thường bà, nhưng trong ḷng vẫn không ngừng thương mến bà v́ bà như một mẹ hiền cho các con ăn, lo việc nhà cửa và h́nh như đối xử quá tốt với các chị em nữa. Đă biết chuyện ấy, con đẩy thêm bánh xe và bảo bà rằng con sắp sửa cho bà đi khỏi ḍng, nhưng con phải hỏi ư kiến các chị em. Con bảo các chị em tới, người này đến người kia. Tất cả đều tha thiết nài xin con giữ bà ở lại.

Làm chuyện ấy xong, con gọi bà bề trên lại và cấm bà từ rầy sắp đi được đề cập tới việc ra đi nữa. Con cho bà hay là sau sự biểu lộ tỏ tường ư muốn của Chúa như thế, bà ta không thể ra đi mà không phạm tội, rằng đức giám mục của bà đă đặt bà lên làm bề trên sau khi các chị em đă chọn lựa bà. Con muốn các chị em  vâng lời bà và kẻ đầu tiên không vâng phục bà trong điều quan hệ, con sẽ đuổi ra khỏi nhà ḍng. Các chị em đă hứa với con điều ấy. 

Sau đó, con lấy riêng từng người một ra và bảo cho họ biết những bê bối cùng t́nh trạng thảm thương của nhà ḍng và án phạt của Thiên Chúa rất nặng nề đối với những ai lợi dụng ơn Ngài ban cho. Các chị em ăn năn thống hối, xưng tội chung, c̣n đâm ra bối rối và lo sợ v́ đă gây sự xúc phạm đến Thiên Chúa. Các chị em lấy mất của con một giây lưng bằng thép, vốn của cha Hainques xưa, mà con t́nh cờ t́m thấy ở đó. Họ làm việc đánh tội và làm vui ḷng con bằng những tư cách lành thánh của họ. Đồng thời, con cho làm một cánh cửa bền tốt mà con yêu cầu họ luôn luôn phải đóng chặt. Con ra lệnh cho họ phải đọc, mỗi mười lăm ngày, các quy luật mà đức cha đă để lại đó cùng một nửa giờ cầu nguyện mỗi ngày.

 

Từ chỗ đó, con sang chỗ nhà bà Khí[23], gặp được năm chị em đồng trinh mà Thiên Chúa quan pḥng vừa đáng ngợi khen vừa đầy t́nh thương yêu đă ngăn cách họ với nhà ḍng nọ hầu ǵn giữ họ trong sự trong trắng. Bởi chưng, nói thật ra, đem so sánh với các chị em khác, họ như năm trinh nữ khôn ngoan cầm đèn sáng sẵn sàng trên tay. Em gái của Gio-a-kim đang ở bên Xiêm La là một trong số cách chị em này và là một nữ anh hùng trong ḷng nhiệt thành. Một bà goá từ mười năm  nay vốn làm gương sáng nhân đức hiếm thấy sẽ đến nhập đoàn với họ vào khoảng dịp Phục Sinh nếu bà ta cứ tiếp tục như bà đă khởi sự. Những việc đền tội, những sự chay tịnh và ḷng thanh sạch nơi những tâm hồn này thật là đáng ca tụng. Hồi trước, các chị em này c̣n làm việc đánh tội tới ba lần một đêm. Họ ăn chay ba ngày mỗi tuần; chẳng có bề trên, nhưng ḷng bác ái và sự đoàn kết giữa các chị em đă thay thế cho sự ấy. Sau khi sửa chữa một vài khuyết điểm nhỏ chẳng đáng ǵ, con để các chị em lại trong niềm hy vọng Thiên Chúa sẽ làm họ nên những tâm hồn đặc tuyển. Con đă cẩn thận giữ miệng chẳng hề khuyến khích họ đến nhà ḍng lớn.

Con đă cấm các chị em được ra khỏi nhà mà không có phép rơ ràng của bà Khi là một phụ nữ thánh thiện và là người giúp đỡ chị em về vật chất.

Con trở lại xem các chị em bên nhà ḍng lớn. Bà bề trên lại nài van con cho được rời nhà ḍng ra đi. Người ta hẳn đă coi thường bà ta nhiều lắm mới khiến bà nài xin con như vậy, dù những chống đỡ mà con đă làm ra cho bà ta. Con tin chắc trong ḷng là phần lớn những chị em vâng lời bà một cách chân thành. Bởi vậy con ép bà ta phải cho con biết ai là kẻ đă gây nên chuyện bê bối này. Nhưng con chẳng nắm được điều ǵ, nơi bà cũng như nơi chị em khác.

Con xử sự với họ thật khắc nghiệt và nói với bà bề trên rằng ngay sau khi lễ xong, bà đi thu dọn đồ đạc, rằng chẳng có giám mục hay các thừa sai của giám mục sẽ nhận lo cái nhà ḍng này. Và v́ các chị em chẳng muốn có lề luật nào khác hơn là ư riêng của họ, th́ các chị em hăy đi theo bà ta. Con trở gót thật buồn bă nên một chị em sốt mến nhất xin gặp riêng con mà cho con biết tên những kẻ làm ra tất cả sự bê bối này. Con trả những kẻ ấy về nhà cha mẹ họ cho đến khi nào họ sửa đổi lại. Có hai chị em vâng lời; nhưng ở được vài ngày với các chị em đồng trinh bên bà Khi, họ tự động trở lại và vào lại nhà ḍng. Ông cha[24] đă cho con hay chuyện ấy ở Hội An, điều khiến con buồn ḷng, v́ thấy những sự diễn ra sau đó mà con đă lo sợ việc pha lẫn men ấy với bột tinh tuyền».

 

Qua những lời sau cùng trên, thừa sai De Courtaulin có vẻ hối tiếc đă để «con sâu làm rầu nồi canh», v́ không ngăn cách được hai nữ tu xấu nết khỏi nhà ḍng mà bà bề trên là người đạo đức thánh thiện song quá đơn sơ chất phác. Trong bối cảnh hồi đó, việc bách đạo có thể xảy ra từ một nguyên cớ rất nhỏ mọn, mà các linh mục thừa sai chẳng nhiều lại cứ phải chạy đây chạy đó, thật không dễ giải quyết được những phức tạp kiểu này nơi một nhà ḍng chập chững h́nh thành. Chốn thanh liêu an tịnh của một tu viện trên trần gian cũng là nơi cỏ lùng mọc chen vào lúa mạch. Cắt cỏ th́ ngại chạm lúa, rút cây th́ sợ chạm rừng.

 

./.

 

<<<<< về trang đầu tiên <<<<<

 

 



[1] Quảng Ngăi.

[2] Thư viết ngày 6.2.1672. Đăng  trong A.Launay : «Cochinchine. Doc.I», trang  94.

[3] Tài liệu viết tay : AMEP. 729, 134. Đăng  trong A.Launay : «Cochinchine. Doc.I», trang  97.

[4] (Nguyên văn «An-si»), tức «An Chỉ» (AMEP. 734, 241 : «An–Chỷ»).

[5] Thánh François de Sales (1567-1622) là cha linh hướng của Thánh Chantal (1572-1641). Cùng với Thánh Chantal (lúc đó là một quả phụ), ngài đă lập ḍng nữ Thăm Viếng năm 1610, kết hợp đời sống chiêm niệm với đời sống tông đồ ngoài xă hội. H́nh thức nữ tu như trên là một điều hết sức mới mẻ trong Giáo Hội lúc đó.

[6] Cha Giuse Trang lúc đó là 33 tuổi. (Căn cứ theo Pierre Destombes : «Le Collège général  de la Société des Missions Etrangères», (Hongkong 1934), trang 10. (Cha qua đời tại  Phú Yên năm 1675 v́ bị độc nước).

[7] «M.Vachet aux Directeurs du Séminaire des Missions Etrangères». Đăng trong : «Relation des missions et des voyages des evesques, vicaires apostoliques et de leurs ecclesiastiques des années 1672, 1673, 1674 et 1675», (Angot - Paris 1680), trang 30. Cũng đăng trong A.Launay : «Cochinchine. Doc.I», trang 95-97.

[8] Tức bà quả phụ Lucia.

[9] Thừa sai Antoine Hainques (1637-1670), theo đức cha Cotolendi rời Pháp để đi sang miền Viễn Đông năm 1661. Tại Xiêm La, ngài được sai sang xứ Đàng Trong vào tháng 4.1665. Ngài làm việc rất thành công tại đây. Ngài qua đời tại tỉnh Quảng Ngăi cuối năm 1670.

[10] Bà Lucia : trong những bài viết của các tác giả Việt Nam, chúng ta đọc thấy tên vị ân nhân này là «Bà Lucia Kỳ». Nhưng trong các bản viết tay của thừa sai De Courtaulin, vị ân nhân này mang tên là «Bà Lucia Kư» : AMEP. 734, 494 (Ba Kí) ; 735, 64 (Madame Lucie Kí) ; 734, 305 (Ba Khi).

Bà Lucia Kư là một quả phụ giầu có, nhưng bà không có con. Thừa sai De Couraulin nói về bà bằng những lời sau : «Bà Lucia Kư (Madame Lucie Kí : từ «Madame» rất trang trọng) là người đàn bà đức hạnh nhất mà chúng tôi được biết trong vương quốc này. Bà đă cho xây lên một ngôi nhà thờ lớn mà bà đă dâng cho Đức Cha và các thừa sai của ngài. Và bà cung dưỡng tất cả những linh mục là những kẻ đi giúp các bổn đạo trong tỉnh hạt này.» (AMEP. 735, 64).

[11] Linh mục thừa sai Hainques qua đời cuối năm 1670, (có lẽ v́ bị đầu độc), an táng tại B́nh Sung, Quảng Ngăi. Tín hữu thời đó tôn sùng ngài như Thánh, đă tự ư thêm vào kinh Cầu Các Thánh câu : «Ông Thánh Hainques, cầu cho chúng tôi». Đức cha Lambert de la Motte khi tới B́nh Sung thấy vậy, không cho tín hữu đọc như thế nữa, v́ sai lề lối của Giáo Hội.

[12] Tài liệu viết tay : AMEP., 733, 657 và 659. Đăng trong A.Launay : «Cochinchine I», trang 170-171.

[13] «Thomas Dạ» : theo bản văn đă được in ra, nhân vật này tên là «Thomas Da»; nhưng căn cứ trên một bản viết tay khác (AMEP. 734, 119) của chính thừa sai De Courtaulin, th́ nhân vật này mang tên là «Thomas Dạ» (cũng có thể nghi ngờ là «Thomas Đạ»).

[14] Nguyên văn : «C’est pourtant un mal où il paraît qu’il n’y a point de remède pour le présent, à moins que Dieu n’ouvre quelque voie secrète» : «Cochinchine. Doc. I», trang 171.

[15] «Relation des missions et des voyages des evesques... 1672-1675», trang 261.

[16] Tức thừa sai Mahot.

[17] «Ils consentaient qu’elle apprît à lire les caractères d’Europe» : «Họ vui ḷng để cô tập đọc chữ Âu Châu». Đây có thể là một chi tiết đặc sắc cho phép chúng ta hiểu một chút về sự đào luyện các nữ tu Mến Thánh Giá đầu tiên.

[18] Cũng như người Hoa, những người Nhật này đến buôn bán và lập nghiệp, tạo thành một khu riêng ở Hội An.

[19] Tài liệu viết tay : AMEP., 734, 119. Đăng trong A.Launay : «Cochinchine. Doc.I», trang 172-174.

[20] Căn cứ theo bản viết tay : «Thày giảng Tiệc» (AMEP. 734, 119).

[21] Bô Tay : Bao Tây, Bầu Nghè, Bầu Góc (Quảng Nghĩa).

[22] Trong bản in của A.Launay : «Chez Ou Thome Da» ; căn cứ theo bản viết tay : «Chỗ nhà ông Tome Dạ».

[23] Ở đây, thừa sai De Courtaulin viết là «ba Khí», ở  đoạn sau lại viết là «ba Khi». Theo ư chúng tôi, đây chẳng ai khác hơn là bà Lucia Kư. Suy diễn của chúng tôi như sau : (1) chữ H người Pháp viết nhưng không phát âm, gọi là H câm (H muet) ; (2) nhà bà Lucia Kư nằm ở Quảng Nghĩa, có thể gần Bô Tay ; (3) nơi bà Lucia Kư là nơi tụ họp các trinh nữ tự nguyện đầu tiên, nhiều thiện chí, và bà Lucia Kư «là một phụ nữ thánh thiện và là người giúp đỡ chị em về vật chất».

[24] Có lẽ là thừa sai Mahot.

 

./.

 

<<<<< về trang đầu tiên <<<<<