chương sáu

 

Tại Xiêm La

 

 

Xiêm La là nơi các thừa sai người Pháp đặt trụ sở chính của họ, nhờ chính sách tự do tôn giáo thời nhà vua Phranarai. Từ ngày đến Juthia cho tới lúc qua đời, (tổng cộng là trên 17 năm), đức cha Lambert de la Motte thường xuyên sống ở đây. Ngài chỉ vắng mặt tại Juthia cả thảy là bốn lần, (tổng cộng là 27 tháng) : dự tính đi Trung Hoa nhưng không thành (mất 2 tháng), để đi Đàng Ngoài (9 tháng), để đi Đàng Trong lần đầu (9 tháng) và lần thứ hai (7 tháng).

Với một thời gian khá dài hiện diện tại Xiêm La, tại sao ngài đă không lập được ở đây một Hội ḍng nữ Mến Thánh Giá sống động hơn ở Đàng Ngoài hay ở Đàng Trong là những nơi ngài chỉ đến thăm viếng rồi lại ra đi ?

Nói ngay ra, không chỉ việc lập ḍng mà cả việc rao giảng Tin Mừng tại Xiêm La cũng đă gặp nhiều khó khăn, phát triển rất chậm. Có lẽ v́ xứ Xiêm La đă ăn rễ sâu trong văn hoá Phật giáo Tiểu thừa (cũng như Cam Bốt và Lào), so với Việt Nam là xứ văn hoá Khổng Mạnh, gần gũi với sứ điệp Phúc Âm hơn.

 

&

 

Lập ḍng nữ Mến Thánh Giá

 

Xiêm La là đất tiếp đón các thừa sai Pháp mới đến, trước khi họ được sai vào Đàng Ngoài hoặc Đàng Trong, hoặc nơi khác như Trung Hoa. Và cũng tại Xiêm La mà đức cha Lambert de la Motte đă xây dựng chương tŕnh lập ḍng nữ Mến Thánh Giá, (nếu không muốn nhắc lại dự định một «Hội ḍng tông đồ»). Trong lá thư viết tháng 10.1667 gửi đức cha Pallu, ngài đă mộng ước[1]: «Việc thứ hai là thiết lập một cộng đoàn các thiếu nữ đồng trinh; cộng đoàn này có thể sẽ cũng vậy và sẽ đông hơn cộng đoàn các thày chủng sinh».

Sự thực, ngài đă không bao giờ thiết lập được ở Xiêm La «một cộng đoàn các thiếu nữ đồng trinh» đông đúc như ngài đă nghĩ.

Và trong ư định của ngài, có vấn đề «đưa một hoặc hai phụ nữ đức hạnh từ Pháp» sang để huấn luyện các nữ tu Mến Thánh Giá địa phương. Khi ngài đưa vấn đề này ra bàn thảo, các thừa sai đă không chia xẻ cùng một ư kiến với ngài, như lời thư của cha Langlois làm chứng[2] : «Về việc các nữ tu Âu Châu, tôi chẳng thấy có một cái ích lợi nào nơi xứ này cả; nơi đây, hôm nay chúng tôi c̣n được tự do, nhưng có thể ngày mai lại sẽ bị đuổi đi rồi. Trong lúc chờ đợi chúng tôi được bảo đảm về nơi chốn và phần lớn những vị quyền thế là người có đạo, th́ chớ hề nghĩ tới gửi các cô hay các bà sang, họ chỉ làm rầy rà cho các thừa sai mà thôi. Khi nào có (nữ tu) trong xứ, lúc đó chúng tôi sẽ cố gắng cho họ những luật lệ giống như các nữ tu Âu châu, hay ít nữa, những luật lệ mà chúng tôi tin rằng có thể giữ được»[3]. C̣n ở Đàng Trong, thừa sai De Courtaulin có vẻ coi thường người bản xứ nên viết cho đức cha Lambert de la Motte rằng : «Ôi, thật là nên mơ ước làm sao mà t́m được cách, với phép của vua ban cho chuyện này, đưa sang đây được một phụ nữ rất đức hạnh có ḷng muốn dẫn dắt các cô gái này. Con chắc chắn rằng các cô sẽ đi ngang hàng với các nữ tu đă được tân cải nhất của nước Pháp».[4]

Vấn đề trên chỉ là ước mơ nơi một vài thừa sai : suốt thế kỷ 17 này, không hề có một nữ tu hoặc một phụ nữ đức hạnh Tây phương nào được đưa qua huấn luyện các chị em Mến Thánh Giá cả.

 

&

 

Từ Đàng Trong trở về vào quăng tháng 5.1672, đức cha Lambert de la Motte đă có cơ may lập được một cộng đoàn nữ Mến Thánh Giá nhỏ tại Juthia. Một đoạn thư gửi từ Xiêm La về Pháp đă được in và xuất bản cho mọi người biết rằng[5] :

«1672. Nhà tế bần cho kẻ đau ốm không phải là cơ sở duy nhất mà chúng tôi đă khởi công; cơ sở cho các nữ đồng trinh có đạo, mà đức cha Bêritê đă h́nh thành chương tŕnh từ năm 1667, cũng đă được xử dụng ngay năm 1672, nhờ may mắn gặp gỡ được nhiều kẻ tỏ ra sẵn sàng với ư định ấy[6], và họ đă sống chung với nhau hồi cuối năm này trong tinh thần cộng đoàn, như các chị em mà chúng tôi đă thành lập vào những năm trước đây ở xứ Đàng Trong và xứ Đàng Ngoài; chuyện ấy, đức cha Bêritê đă viết cho bà bá tước [công tước] D'Aiguillon[7] hồi bà c̣n sống qua lá thư đề ngày 22.11.1672 của ngài sau khi từ Đàng Trong trở về».

Launay, khi viết quyển «Lịch sử truyền giáo Xiêm La»[8], đă ghi chú về các nữ tu Mến Thánh Giá tại Juthia như sau : «Ngài đă thực hiện chương tŕnh thiết lập một nhà ḍng nữ, «nhờ may mắn gặp gỡ nhiều kẻ tỏ ra sẵn sàng với ư định ấy». Các thiếu nữ này, số người là 4 hay 5 chị em, tất cả đều là người gốc xứ Đàng Trong. Ngài cho họ tên gọi là Mến Thánh Giá, cùng tên gọi như các chị em xứ Đàng Ngoài đă được thánh hiến cho Thiên Chúa dưới sự hướng dẫn của ngài».[9]

 

&

 

Chúng tôi không được biết, từ khi thành lập cho đến cuối thế kỷ 17, cái hội ḍng Mến Thánh Giá nhỏ bé ấy tại Xiêm La đă ra sao, nhất là vào thời gian loạn lạc năm 1688 tại Juthia ?[10]

 

./.

 

Đức cha Lambert de la Motte qua đời

 

Đức cha Lambert de la Motte, sinh ngày 28.1.1624 tại La Boissière, tỉnh Calvados, nước Pháp; qua đời tại Juthia, xứ Xiêm La, ngày 15.6.1679, lúc 55 tuổi.

 

Một vài lá thư mà chúng tôi trích dịch sau đây sẽ nói lên, không phải chỉ là những ngày sau cùng của một đời người, nhưng nhất là bản lănh và sự nghiệp của một thừa sai tên tuổi vào những thế kỷ mới này : đức cha Lambert de la Motte, vị sáng lập ḍng Mến Thánh Giá.

 

Thư của thừa sai Gayme gửi thừa sai Sevin[11] :

«Ngày 27.10.1679

Cái chết của đức cha Bêritê là nỗi đau buồn thứ nhất mà tôi phải nói với cha. Tôi nghĩ rằng cái tin này sẽ khiến cha khó ở cũng như đă gây thiệt tḥi mất mát cho sứ vụ rao giảng. Chúc tụng Thiên Chúa trong mọi sự !

Đức cha qua đời hôm 15 tháng sáu vừa qua, vào 4 giờ sáng. Ngài đă chẳng hề nghỉ ngơi được suốt hai giờ đồng hồ liên tục bao giờ từ ngày cha đi khỏi, trước đó cũng thế. Sự buồn lo và ưu phiền là nỗi thống khổ lớn nhất của ngài. Cho tới hai tháng trước khi ngài qua đời, chớ có làm rầy rà ngài về bất kỳ sự ǵ và rất đỗi khó xử lư. Các học tṛ của tôi, suốt hơn bốn tháng trời, canh trực ở pḥng ngài ban đêm, với một vài người khác nữa, để làm ngài khuây khỏa bớt. Trong ṿng bốn mươi hay năm mươi ngày, tôi đưa ngài đi dạo bằng thuyền trên sông, v́ thấy sự ấy giúp ngài, ít ra, giảm bớt nỗi lo buồn.

Từ hôm cha đi rồi, chẳng hề có ngày nào mà tôi lại chẳng bỏ ra cho ngài ba hay bốn giờ đồng hồ thời gian của tôi, cho tới quăng sáu tuần trước khi ngài qua đời, ngài bị một cơn sốt rất nặng. Tôi cho gọi ông Geffard đến, và trong suốt thời gian mà chúng tôi canh chừng trong pḥng ngài, ngày và đêm, với các học tṛ. Tôi tự chỉ định ḿnh canh thức ba phần, và các cha khác hai phần, lư do v́ sự tin cậy đặc biệt của ngài nơi tôi trong việc cho ngài uống, cho ngài ăn, vân vân. Tôi không hiểu tôi đă có thái độ nào đối với ngài; nhưng chỉ có tôi mới có thể xử sự được với ngài.

Ngài chết v́ kiệt sức vào cuối phiên canh của tôi, lúc 4 giờ sáng. Nửa đêm trước, ngài c̣n muốn chịu Ḿnh Thánh Chúa và sai tôi đọc bản tuyên thệ đức tin của ngài. Tôi phải thú thật với cha rằng tôi đọc mà nước mắt ứa trên mi.

Quăng chừng tám hôm trước, cứ phải đổi giường cho ngài mỗi một khắc đồng hồ, cho đến cuối phiên canh của tôi là lúc ngài qua đời. Tôi không muốn ngài đổi giường nữa, sợ rằng ngài cứ ở trong tay tôi măi. Suốt mười lăm ngày trước khi chết, ngài chỉ nói chuyện với chúng tôi, không chấp nhận bất kỳ người lạ nào khác.

Nghe tin ngài qua đời, gần như toàn thể khu phố người Bồ Đào Nha đều đến đây, cũng như hôm sau là ngày chôn cất ngài, tại nghĩa địa, trong một huyệt có tường gạch bao quanh».

 

Thư của đức cha Laneau gửi các giám đốc Chủng viện Hội Thừa Sai Paris[12] :

«Ngày 2.11.1679

Chớ ǵ Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta là đối tượng duy nhất cho tâm trí chúng ta.

Chúa đă ưng ḷng cho chúng tôi chịu đau khổ v́ sự mất mát trong năm này, khi Ngài cất khỏi chúng tôi đức cha Bêritê. Sự mất mát ấy, các cha đă chỉ rơ qua các bản tường thuật ngắn gọn của chúng tôi và qua các thư từ trước đây của chúng tôi, nên chúng tôi thấy phải kể chuyện cho các cha nhiều hơn nữa.

Đức cha đă chết đầy những đau khổ. Chúa đă cho ngài cảm nếm đến tận cùng sức nặng của thánh giá Chúa mà suốt đời ngài, ngài đă rất đỗi say đắm. Chúng tôi đă không dám ghi vào trong bản tường thuật tất cả những điểm đặc biệt về các nỗi thống khổ của ngài, sợ rằng điều ấy ra vẻ khó tin được cho những ai không hiểu biết đường lối mà Thiên Chúa dùng để đối xử với những ai được Ngài sủng ái nhất. Nhưng bởi v́ giữa chúng ta, không được có sự giấu giếm nào, nên tôi mới nói với các cha đôi điều.

Đă từ nhiều năm rồi đức cha cảm thấy nhiều khó khăn khi đi tiểu; nhưng việc ấy đă không ngăn trở ngài làm được những công việc b́nh thường của ngài; mặc dù, sự thực là năm vừa qua, ngài đă không dám liều lĩnh đi sang xứ Đàng Trong.[13]

Ngày lễ Đức Bà Lên Trời, ngài bỗng bị một mụn nhọt mà chúng tôi tưởng là ngài bị trĩ; nhưng mụn nhọt phát lên thành nấm khiến ngài phải chịu những cơn đau đớn ác nghiệt. Ngài phải khổ sở chịu chúng tôi trị đặt những thuốc thang cần thiết.[14]

Đức vua xứ Xiêm La cho gửi tới ngài những thày thuốc của đức vua. Họ cho ngài một lượng lớn những thuốc thang. Nhưng mọi thứ ấy chẳng giúp ngài được sự ǵ, ngược lại c̣n làm ngài đau đớn thêm.

Sau đó, ngài bị cơn sốt nóng lạnh[15], bị khát nước, bị đi tiểu không ngừng, điều này khiến nghĩ rằng ngài không bị sạn. Nhưng lúc ngài chết rồi, chúng tôi mới t́m ra được ba ḥn sạn lớn dính cả lại với nhau, điều mà trước đó chúng tôi không dám chắc, bởi chẳng bao giờ muốn chịu để khám xét, lư do là v́ việc ấy vô lễ sỗ sàng. Cùng với ba ḥn sạn, người ta c̣n thấy nơi ngài bọng đái đă hoàn toàn hư thối và lở loét, một trong hai quả thận sưng lớn như nắm tay với một mụn lở lói, do đó khiến nước tiểu của ngài rất nặng mùi.

Trong những tháng đầu, ngài c̣n chỗi dậy được; nhưng sau th́ ngài buộc ḷng phải hành xử ngay trong giường. Bởi thế, lại làm ngài chịu thêm mụn ghẻ lở nhiều nơi. Vào thời cuối cùng, ngài chỉ c̣n lại da với xương. Lúc ban đầu, ngài không thể đi việc cần thiết tiêu tiện được; và vào những thời gian sau cùng, ngài lại bị chứng đi tả.

Thật là thương xót khi nghe những tiếng kêu la của ngài khi những cơn đau đớn lại trỗi lên, gần như cứ từng mỗi khắc đồng hồ hay cứ nửa giờ một. Mà ngài thường bảo rằng tất cả sự ấy chẳng là ǵ hết so với sự buồn phiền và cay đắng ngập trong linh hồn ngài. Bởi v́ Thiên Chúa đă cất hết nơi ngài mọi sự an ủi nội tâm. Chỉ c̣n lại cho ngài một tia sáng nhỏ nhoi, mà tôi không biết là ánh sáng ǵ, đă không để ngài tuyệt vọng. Ngài rơi vào những nỗi lo lắng và những sự tối tăm rất mực lạ lùng đến nỗi ngài không biết phải nằm quay ḿnh về phía bên nào nữa. Ngài khiến khiêng ngài đi từ chỗ này sang chỗ khác. Và trong buồng ngài, ngài đổi giường liên tục. Tuy nhiên, v́ ngài thấy rơ là chúng tôi coi là lạ lùng những nỗi lo lắng của ngài như vậy, ngài xin là đừng lấy đó làm gương xấu. Phải cho sự ấy vào cái tự nhiên đang than thở kêu than[16]. Nhưng cho dù tất cả giác quan đă hoàn toàn rơi vào trong hỗn độn và thảm hại, ngài vui hưởng một niềm vui sâu thẳm trong đáy linh hồn ngài. Mặc dù con thú nằm trong cực h́nh man dại, sự b́nh an nơi thượng phần vẫn không hề phai nhạt[17].

Ngài kêu than lên cùng Thiên Chúa, gần tựa như ông Gióp đă làm khi tới cùng cực những nỗi đau khổ. Lời thường xuyên hằng ngày trên miệng ngài chẳng là lời nào khác hơn lời này : «Auge dolorem, auge patientiam». Ngài nói rằng dù đôi lúc ngài đă có thốt lên những lời kém kiên nhẫn, rằng ngài không thực t́nh muốn thế, rằng ngài tuyệt đối chỉ muốn điều Chúa muốn. Người ta đề nghị ngài làm vài lời khấn hứa nào đó để xin Chúa cho được sức khỏe lại; nhưng khi đă kể cho tôi điều người ta đề nghị với ngài, ngài kết luận rằng ngài không dám xin Chúa cho được sức khỏe, và rằng ngài chẳng hề biết rơ đó sẽ là cùng sách hay không, xét về tuổi tác của ngài cùng những liệt lào ngài chịu. Ngài nói rằng ngài không c̣n quỳ gối được nữa, cũng chẳng làm việc đánh tội được, rằng ngài sẽ gây gương xấu cho các thừa sai.

Ngài t́m được sự nâng đỡ khi thấy đặng vài người trong chúng tôi. Nhưng v́ ở đây có vô vàn công việc, nên thường khó ḷng mà giúp đỡ được ngài. Chính ngài bảo chúng tôi thoái ra mà nói hăy đi làm việc của Thiên Chúa và hăy để ngài đau đớn.

Không bao giờ sự phán đoán của ngài bị giảm sút. Luôn luôn ngài trả lời cho tất cả mọi sự người ta đề nghị ra với ngài, cũng y như thời ngài mạnh khỏe.

Thường xuyên ngài rước Ḿnh Thánh Chúa. Chúng tôi không thể tin nổi ḷng sốt sắng thánh thiện mà ngài đă tỏ ra khi lănh nhận những bí tích sau cùng của Giáo Hội.

Cuối cùng, ngài đă phó linh hồn cho Chúa trong tư cách con người đích thực của sự thương khó như ngài đă luôn luôn sống thế vậy, giữa những thánh giá và những nỗi khổ đau, (dù) bên ngoài và bên trong không như nhau[18], ở mọi nơi mà Thiên Chúa dẫn đưa ngài qua hầu để ngài chết đi trọn vẹn và để biến ngài nên bất khả thông phần vui mừng nào, nói được như thế, vào điều mà Thiên Chúa thực hiện qua ngài».[19]

 

Thừa sai Gayme c̣n gửi thừa sai Sevin một thư nữa, rằng[20] :

«Ngày 22.11.1679

Tôi quả quyết với cha rằng đức cha đă chịu đau đớn hết sức ngài có thể chịu được. T́nh cảnh của ngài khiến tôi động ḷng thương cảm. Và nhất là vào cuối đời ngài, nỗi lo buồn đă xâm chiếm ngài quá sức đến nỗi cứ phải đổi giường nằm cho ngài mỗi một khắc đồng hồ.

Cha Gioan d'Abreu lúc đó có mặt ở Xiêm La đă tới thăm ngài với cha Motta, bốn mươi ngày trước khi ngài ra đi. Một người Bồ Đào Nha tại Ma-cao nhiều thiện chí đă muốn giúp đức cha một vài vị thuốc. Thuốc của ông ta đă giảm dịu cho đức cha được một ít lâu, nhưng cơn đau lại quá lớn».

 

&

 

Đức cha Pallu[21] :

«Đức cha Bêritê quỵ ngă trong nhiệm vụ; nhưng ngài đă biết khéo léo dàn xếp những tâm trí và hoà giải mọi sự nhờ tính dịu dàng, kiên nhẫn và độ lượng của ngài, nhờ gương sáng một đời sống thánh thiện, luôn luôn mực thước, không bao giờ lay chuyển dưới cách thức nào đi nữa, nhưng đặc biệt nhờ kinh nguyện khẩn thiết của ngài nơi Thiên Chúa và sau hết, ngài đă đem về tất cả mọi ḷng trí xa cách. Ngài đă nên một bậc thày và sắp đặt tất cả theo như ngài muốn. Tất cả những ai biết đức cha Bêritê đều hiểu rằng khó mà t́m được một người nào thích hợp riêng như ngài vào nhiệm vụ được ủy thác mà ngài thực hiện.

Sau Thiên Chúa ra, chính nhờ ngài mà người ta có được những công tŕnh tại Xiêm La, tại Đàng Trong và tại Đàng Ngoài. Giữa những công tŕnh đó, ngài đă phải vượt qua nhiều khó khăn và chịu đựng những công kích rất kịch liệt. Ngài đă khéo léo trang bị cho hai sứ mệnh thừa sai sau này[22] chống lại sự ly khai (trong Giáo Hội), đó đă là chuyện công khai; hai sứ mệnh rao truyền trên vẫn đứng vững cho tới rầy, lại được tăng cường thêm nhiều và phát triển mạnh, cho dù những kẻ cạnh tranh với chúng ta vẫn mang ḷng ham muốn và có những cố sức liên tục.

Thiên Chúa đă ban cho ngài một tinh thần dũng cảm, không hề biết đầu hàng, cũng không hề nhu nhược, khi ngài thấy cái lư nằm bên phía ngài. Tuy nhiên, ngài biết nhượng bộ kịp thời khi cần, và cho đi sự ǵ đó để đạt được điều cơ bản.

Ngài đáng kính phục nhất là trong những phương pháp xử lư mà ngài không bao giờ thiếu. Sau hết, ở đây, không khi nào ngài thực hiện sự ǵ quan trọng mà ngài lại không đi tới cùng. Những đối thủ của ngài là những người Bồ Đào Nha, người Hoà Lan, người Anh và nhiều nhân vật thế giá khác, người giang hồ[23], người Trung Hoa, người Xiêm La. Ngài vượt thắng được tất cả và bó buộc họ phải nhượng bộ, mà không bao giờ làm họ bị tổn thương. Và tất cả những sự đó, ngài thực hiện mà không bao giờ ra khỏi căn pḥng ḿnh, hoặc có ra th́ cũng cực kỳ họa hiếm, và có thể nói chẳng bao giờ ngài xuất hiện mà vùng vẫy khuấy động».[24]

 

Tại Roma, v́ chưa hay tin đức cha đă qua đời, ngày 4.10.1679, đức giáo hoàng Innôcentê XI viết gửi sang ngài bức thư sau[25] :

«Ngày 4.10.1679

Những bức thư mà đức cha đă viết cho ta từ Xiêm la làm cho ta được vui mừng, và vui mừng hơn nữa v́ phải mất thời gian dài thư mới tới được ta, nếu như gọi được là lâu thời gian mà thư từ đến từ chốn xa xôi ấy. Ngoài sự kính trọng mà đức cha đă biểu lộ ra đối với bản thân ta, không phải v́ công trạng cá nhân của ta, song v́ sự quan pḥng của Thiên Chúa đă đặt ta trên Toà này mà điều khiển Hội Thánh, ta rất hân hoan được hay tin mùa gặt phong phú, vào những ngày này, cho cánh đồng của Chúa được thêm bội phần nơi những vùng đất xa xôi đó.

Tin tưởng rằng đức cha làm việc hăng say cho công tŕnh đáng ca tụng ấy, và đức cha có nhiệt huyết truyền bá đức tin công giáo, với t́nh cảm thắm thiết nhất trong t́nh yêu thương của người cha, ta ôm hôn đức cha trong Chúa; hăy tin rằng sự giúp đỡ của ta luôn luôn trợ lực những cố gắng đạo đức mà đức cha không ngừng thực hiện, hầu đạt tới mục đích sang trọng của đức cha và thu được phần thưởng dọn sẵn trên trời cho đức cha.... Ta thân ái ban cho đức cha phép lành tông đồ».

 

./.

 

Mộ của đức cha Lambert de la Motte bị xúc phạm

 

Ngày 18.5.1688, tại Juthia, một quan cận thần tên là Pitracha, nhờ sự hưởng ứng của giới tu sĩ Phật giáo, nổi loạn đem quân bao vây triều đ́nh. Vua Phranarai bệnh hoạn và buồn phiền mà chết trong cung đêm ngày 10 tháng bảy sau đó.[26]

Vào tháng 11 tiếp theo, đức cha Laneau, các thừa sai, các thày chủng sinh và nhiều giáo hữu bị bắt vào tù. Ngôi nhà Chủng viện Thánh Giuse tại Juthia bị cướp phá, rồi được dùng làm trại lính và chuồng nuôi ngựa.[27]

Thừa sai Martineau người Pháp là một trong ba thừa sai không bị bắt vào tù, v́ ngài đă già nua, ra sống trong giáo xứ Việt kiều cạnh Chủng viện. Ngài viết lại một bài tường thuật về vụ bách hại này (từ ngày 9.11.1688 đến 28.7.1690)[28]. Trong đó, có đoạn nói đến chuyện phần mộ của đức cha Lambert de la Motte bị xúc phạm như thế nào :

«Cơn thịnh nộ và cuồng điên chúng chống lại chúng tôi cứ đổ lên đầu lên cổ những kẻ c̣n sống như vậy, nhưng chưa đặng thỏa thích, chúng lại c̣n t́m đến cả những người đă chết, hay đúng hơn, đến những hài cốt của người quá văng c̣n lưu lại cho chúng tôi. Chúng t́m tới tận mồ mả người đă chết : chúng khai quật xương cốt đức cha Bêritê và th?a sai De Chandebois[29] lên, ném khắp bên này bên nọ[30]. Nhưng ḷng đạo đức của những giáo dân Việt kiều Đàng Trong đă thúc đẩy họ đến thu lượm những hài cốt ấy mà đem chôn cất lại. Tôi biết rằng ḷng gian tà và cơn đói khát vàng bạc nơi những kẻ ngoại đạo là nguyên do mạnh mẽ nhất khiến chúng lục lạo như thế đến tận các phần mộ, tin rằng cứ như phong tục của họ, sẽ t́m được chút ǵ nơi đó».

 

Tháng 8.1690, tất cả được ra khỏi tù, Chủng viện Thánh Giuse được trao trả, song chẳng c̣n lại ǵ trong đó.

 

./.

 

 

<<<<< về trang đầu tiên <<<<<

 



[1] Toàn bức thư đă được tŕnh bày ở Chương Một.

[2] Tài liệu viết tay : AMEP. 858, 207. Đăng trong A.Launay : «Histoire de la Mission de Siam. Documents historiques I», (Téqui - Paris 1920), trang 24.

[3] Bức thư này ghi tháng 6.1671, tức một tháng trước khi đức cha rời Juthia sang thăm Đàng Trong lần thứ nhất.

[4] Thư đề ngày 10.12.1674, đă trích dịch ở Chương Bốn.

[5] «Relation des missions et des voyages des evesques... 1672-1675», (C.Angot - Paris 1680), trang 61.

[6] «Par la rencontre heureuse de plusieurs sujets qui se trouvèrent disposés à ce dessein».

[7] D’Aiguillon : Marie-Madeleine de Vignerot, cháu của Richelieu.

[8] A.Launay : «Histoire de la Mission de Siam : 1662 - 1811», (Téqui - Paris 1920).

[9] Trang 14.

[10] Về sự tái xây dựng ḍng Mến Thánh Giá tại Xiêm La vào giữa thế kỷ 19, xem Robert Costet : «Notes d’histoire chrétienne de la Thailande», phần I, trang 77-78, (tài liệu tham khảo nội bộ, Hội Thừa Sai Paris).

[11] Tài liệu viết tay : AMEP., 860, 21. Đăng trong A.Launay : «Histoire de la Mission de Siam, Documents historiques, tome I», trang 72.

[12] Tài liệu viết tay : AMEP., 860, 25. Đăng trong A.Launay : «Histoire de la Mission de Siam, Documents historiques, tome I», trang 73-74.

[13] «A la vérité, il n’osât se hasarder l’an passé d’aller à la Cochinchine» : theo lời này th́ đức cha Lambert de la Motte đă có ư đi thăm Đàng Trong một lần thứ ba vào năm 1678.

[14] Như đă tŕnh bày, vào thời công đồng Juthia 1664, ngài đă có ư định lập nên một «Hội ḍng tông đồ» với lời hứa phụ thuộc là «bị bệnh, không dùng đến thuốc thang». Ở đây, thái độ của ngài chứng tỏ cho thấy sự vâng phục trọn t́nh của ngài đối với Toà thánh.

[15] «Une fièvre éthique avec une fièvre putride».

[16] Nguyên văn : «Qu’il fallait donner cela à la nature qui se plaignait». Có thể hiểu là v́ cái thể lư tự nhiên của ngài đă suy sụp, nên thái độ tinh thần của ngài sinh ra như thế ; đó là chuyện đương nhiên.

[17] Nguyên văn : «Bien que l’animal fût à la torture, le calme de la partie supérieure n’en ressentait point de l’altération.» ? Ở đây, phải chăng «con thú» là cái thân xác và linh hồn con người nơi đức cha Lambert de la Motte ; c̣n «thượng phần» là «đáy linh hồn ngài» nơi vẫn c̣n lại «một niềm vui sâu thẳm».

[18] Nguyên văn : «Au milieu des croix et des souffrances, non pas tant extérieures qu’intérieures». Lời này khiến ta nhớ lại : «Ngài thường bảo rằng tất cả sự ấy chẳng là ǵ hết so với sự buồn phiền và cay đắng ngập trong linh hồn ngài.»

[19] «Từ chối mọi niềm vui vẻ có thể đến từ một thụ tạo hay ngay cả từ những ân huệ trên trời» : trong lời khấn hứa đức cha Lambert de la Motte đă đặt ra thời công đồng Juthia 1664 : (xem Chương Một).

[20] Tài liệu viết tay : AMEP., 860, 29. Đăng trong A.Launay : «Histoire de la Mission de Siam, Documents historiques, tome I», trang 72-73.

[21] Tài liệu viết tay : AMEP., 102, 508. Đăng trong : «Histoire générale I», trang 253-254.

[22] Giáo Hội tại Đàng Ngoài và tại Đàng Trong : một bên là thừa sai Pháp của Thánh bộ Truyền bá Đức tin, và bên kia, chủ yếu là các cha ḍng Tên của triều đ́nh Bồ Đào Nha.

[23] «Maures» : danh từ thường chỉ những người gốc Phi Châu, sống hoàn toàn tự do, độc lập với mọi thể chế quốc gia, lang thang khắp nơi.

[24] Một đoạn trong tài liệu này đă được dịch sang Việt ngữ và đăng trong : «Đức cha», trang 21-22.

[25] Tài liệu viết tay : AMEP., 269, 167. Đăng trong : «Histoire générale I», trang 254-255.

[26] Về chuyện này, đă có khá nhiều công tŕnh nghiên cứu, ví dụ : Dirk Van der Cruysse, «Louis XIV et le Siam», (Fayard 1991).

[27] Văn khố Hội Thừa Sai Paris c̣n giữ được một lá thư chữ quốc ngữ của linh mục Paulinô Kảnh Huệ tả lại việc cầm tù và t́nh trạng rối ren tại Juthia lúc đó : AMEP., 880, 495-504.

[28] Tài liệu viết tay : AMEP., 854, 523-684. Đăng trong A.Launay : «Histoire de la Mission de Siam, Documents historiques, tome I», trang 223.

[29] Thừa sai Claude Chandebois de Falandin sinh năm 1640, đến Xiêm La năm 1673 và qua đời tại đây tháng 12.1687.

[30] Nguyên văn : «Ils déterrèrent les ossements de Mgr de Bérythe et de M. de Chandebois qu’ils jetèrent de côté et d’autre».

 

./.

 

<<<<< về trang đầu tiên <<<<<