chương sáu
Tại Xiêm La
Xiêm La là nơi các thừa sai người
Pháp đặt trụ sở chính của họ, nhờ
chính sách tự do tôn giáo thời nhà vua Phranarai. Từ ngày
đến Juthia cho tới lúc qua đời, (tổng cộng
là trên 17 năm), đức cha Lambert de
Với một thời gian khá dài hiện diện
tại Xiêm La, tại sao ngài đă không lập được
ở đây một Hội ḍng nữ Mến Thánh Giá sống
động hơn ở Đàng Ngoài hay ở Đàng Trong là
những nơi ngài chỉ đến thăm viếng rồi
lại ra đi ?
Nói ngay ra, không chỉ việc lập ḍng mà
cả việc rao giảng Tin Mừng tại Xiêm La cũng
đă gặp nhiều khó khăn, phát triển rất chậm.
Có lẽ v́ xứ Xiêm La đă ăn rễ sâu trong văn hoá
Phật giáo Tiểu thừa (cũng như Cam Bốt và
Lào), so với Việt Nam là xứ văn hoá Khổng Mạnh,
gần gũi với sứ điệp Phúc Âm hơn.
&
Lập ḍng nữ Mến Thánh Giá
Xiêm La là đất tiếp đón các thừa
sai Pháp mới đến, trước khi họ được
sai vào Đàng Ngoài hoặc Đàng Trong, hoặc nơi khác
như
Sự thực, ngài đă không bao giờ thiết
lập được ở Xiêm La «một cộng đoàn
các thiếu nữ đồng trinh» đông đúc như
ngài đă nghĩ.
Và trong ư định của ngài, có vấn
đề «đưa một hoặc hai phụ nữ đức
hạnh từ Pháp» sang để huấn luyện các nữ
tu Mến Thánh Giá địa phương. Khi ngài đưa
vấn đề này ra bàn thảo, các thừa sai đă không
chia xẻ cùng một ư kiến với ngài, như lời
thư của cha Langlois làm chứng[2]
: «Về việc các nữ tu Âu Châu, tôi chẳng thấy có một
cái ích lợi nào nơi xứ này cả; nơi đây, hôm
nay chúng tôi c̣n được tự do, nhưng có thể
ngày mai lại sẽ bị đuổi đi rồi. Trong
lúc chờ đợi chúng tôi được bảo đảm
về nơi chốn và phần lớn những vị quyền
thế là người có đạo, th́ chớ hề nghĩ
tới gửi các cô hay các bà sang, họ chỉ làm rầy rà
cho các thừa sai mà thôi. Khi nào có (nữ tu) trong xứ, lúc
đó chúng tôi sẽ cố gắng cho họ những luật
lệ giống như các nữ tu Âu châu, hay ít nữa, những
luật lệ mà chúng tôi tin rằng có thể giữ
được»[3].
C̣n ở Đàng Trong, thừa sai De Courtaulin có vẻ coi thường
người bản xứ nên viết cho đức cha
Lambert de la Motte rằng : «Ôi, thật là nên mơ ước
làm sao mà t́m được cách, với phép của vua ban cho
chuyện này, đưa sang đây được một phụ
nữ rất đức hạnh có ḷng muốn dẫn dắt
các cô gái này. Con chắc chắn rằng các cô sẽ đi
ngang hàng với các nữ tu đă được tân cải
nhất của nước Pháp».[4]
Vấn đề trên chỉ là ước
mơ nơi một vài thừa sai : suốt thế kỷ
17 này, không hề có một nữ tu hoặc một phụ
nữ đức hạnh Tây phương nào được
đưa qua huấn luyện các chị em Mến Thánh Giá cả.
&
Từ Đàng Trong trở về vào quăng
tháng 5.1672, đức cha Lambert de la Motte đă có cơ may lập
được một cộng đoàn nữ Mến Thánh
Giá nhỏ tại Juthia. Một đoạn thư gửi từ
Xiêm La về Pháp đă được in và xuất bản
cho mọi người biết rằng[5]
:
«1672. Nhà tế bần cho kẻ đau ốm
không phải là cơ sở duy nhất mà chúng tôi đă khởi
công; cơ sở cho các nữ đồng trinh có đạo,
mà đức cha Bêritê đă h́nh thành chương tŕnh từ
năm 1667, cũng đă được xử dụng ngay
năm 1672, nhờ may mắn gặp gỡ được
nhiều kẻ tỏ ra sẵn sàng với ư định ấy[6],
và họ đă sống chung với nhau hồi cuối
năm này trong tinh thần cộng đoàn, như các chị
em mà chúng tôi đă thành lập vào những năm trước
đây ở xứ Đàng Trong và xứ Đàng Ngoài; chuyện
ấy, đức cha Bêritê đă viết cho bà bá tước [công
tước] D'Aiguillon[7]
hồi bà c̣n sống qua lá thư đề ngày 22.11.1672 của
ngài sau khi từ Đàng Trong trở về».
Launay, khi viết quyển «Lịch sử
truyền giáo Xiêm La»[8],
đă ghi chú về các nữ tu Mến Thánh Giá tại Juthia
như sau : «Ngài đă thực hiện chương tŕnh thiết
lập một nhà ḍng nữ, «nhờ may mắn gặp gỡ
nhiều kẻ tỏ ra sẵn sàng với ư định ấy».
Các thiếu nữ này, số người là 4 hay 5 chị
em, tất cả đều là người gốc xứ
Đàng Trong. Ngài cho họ tên gọi là Mến Thánh Giá, cùng
tên gọi như các chị em xứ Đàng Ngoài đă
được thánh hiến cho Thiên Chúa dưới sự
hướng dẫn của ngài».[9]
&
Chúng tôi không được biết, từ
khi thành lập cho đến cuối thế kỷ 17, cái hội
ḍng Mến Thánh Giá nhỏ bé ấy tại Xiêm La đă ra
sao, nhất là vào thời gian loạn lạc năm 1688 tại
Juthia ?[10]
./.
Đức cha Lambert de la Motte qua đời
Đức cha Lambert de la Motte, sinh ngày
28.1.1624 tại La Boissière, tỉnh
Calvados, nước Pháp; qua đời tại Juthia, xứ
Xiêm La, ngày 15.6.1679, lúc 55 tuổi.
Một vài lá thư mà chúng tôi trích dịch
sau đây sẽ nói lên, không phải chỉ là những ngày
sau cùng của một đời người, nhưng nhất
là bản lănh và sự nghiệp của một thừa sai
tên tuổi vào những thế kỷ mới này : đức
cha Lambert de la Motte, vị sáng lập ḍng Mến Thánh Giá.
Thư của thừa sai Gayme gửi thừa
sai Sevin[11]
:
«Ngày 27.10.1679
Cái chết của đức cha Bêritê là nỗi
đau buồn thứ nhất mà tôi phải nói với cha.
Tôi nghĩ rằng cái tin này sẽ khiến cha khó ở cũng
như đă gây thiệt tḥi mất mát cho sứ vụ rao
giảng. Chúc tụng Thiên Chúa trong mọi sự !
Đức cha qua đời hôm 15 tháng sáu vừa
qua, vào 4 giờ sáng. Ngài đă chẳng hề nghỉ
ngơi được suốt hai giờ đồng hồ
liên tục bao giờ từ ngày cha đi khỏi, trước
đó cũng thế. Sự buồn lo và ưu phiền là nỗi
thống khổ lớn nhất của ngài. Cho tới hai
tháng trước khi ngài qua đời, chớ có làm rầy
rà ngài về bất kỳ sự ǵ và rất đỗi khó
xử lư. Các học tṛ của tôi, suốt hơn bốn
tháng trời, canh trực ở pḥng ngài ban đêm, với một
vài người khác nữa, để làm ngài khuây khỏa bớt.
Trong ṿng bốn mươi hay năm mươi ngày, tôi
đưa ngài đi dạo bằng thuyền trên sông, v́ thấy
sự ấy giúp ngài, ít ra, giảm bớt nỗi lo buồn.
Từ hôm cha đi rồi, chẳng hề
có ngày nào mà tôi lại chẳng bỏ ra cho ngài ba hay bốn
giờ đồng hồ thời gian của tôi, cho tới
quăng sáu tuần trước khi ngài qua đời, ngài bị
một cơn sốt rất nặng. Tôi cho gọi ông
Geffard đến, và trong suốt thời gian mà chúng tôi canh
chừng trong pḥng ngài, ngày và đêm, với các học tṛ.
Tôi tự chỉ định ḿnh canh thức ba phần, và
các cha khác hai phần, lư do v́ sự tin cậy đặc biệt
của ngài nơi tôi trong việc cho ngài uống, cho ngài
ăn, vân vân. Tôi không hiểu tôi đă có thái độ nào
đối với ngài; nhưng chỉ có tôi mới có thể
xử sự được với ngài.
Ngài chết v́ kiệt sức vào cuối
phiên canh của tôi, lúc 4 giờ sáng. Nửa đêm trước,
ngài c̣n muốn chịu Ḿnh Thánh Chúa và sai tôi đọc bản
tuyên thệ đức tin của ngài. Tôi phải thú thật
với cha rằng tôi đọc mà nước mắt ứa
trên mi.
Quăng chừng tám hôm trước, cứ phải
đổi giường cho ngài mỗi một khắc đồng
hồ, cho đến cuối phiên canh của tôi là lúc ngài
qua đời. Tôi không muốn ngài đổi giường
nữa, sợ rằng ngài cứ ở trong tay tôi măi. Suốt
mười lăm ngày trước khi chết, ngài chỉ
nói chuyện với chúng tôi, không chấp nhận bất kỳ
người lạ nào khác.
Nghe tin ngài qua đời, gần như toàn
thể khu phố người Bồ Đào Nha đều
đến đây, cũng như hôm sau là ngày chôn cất
ngài, tại nghĩa địa, trong một huyệt có
tường gạch bao quanh».
Thư của đức cha Laneau gửi các
giám đốc Chủng viện Hội Thừa Sai Paris[12]
:
«Ngày 2.11.1679
Chớ ǵ Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta là đối
tượng duy nhất cho tâm trí chúng ta.
Chúa đă ưng ḷng cho chúng tôi chịu đau
khổ v́ sự mất mát trong năm này, khi Ngài cất khỏi
chúng tôi đức cha Bêritê. Sự mất mát ấy, các cha
đă chỉ rơ qua các bản tường thuật ngắn
gọn của chúng tôi và qua các thư từ trước
đây của chúng tôi, nên chúng tôi thấy phải kể chuyện
cho các cha nhiều hơn nữa.
Đức cha đă chết đầy những
đau khổ. Chúa đă cho ngài cảm nếm đến tận
cùng sức nặng của thánh giá Chúa mà suốt đời
ngài, ngài đă rất đỗi say đắm. Chúng tôi
đă không dám ghi vào trong bản tường thuật tất
cả những điểm đặc biệt về các nỗi
thống khổ của ngài, sợ rằng điều ấy
ra vẻ khó tin được cho những ai không hiểu biết
đường lối mà Thiên Chúa dùng để đối
xử với những ai được Ngài sủng ái nhất.
Nhưng bởi v́ giữa chúng ta, không được có sự
giấu giếm nào, nên tôi mới nói với các cha đôi
điều.
Đă từ nhiều năm rồi đức
cha cảm thấy nhiều khó khăn khi đi tiểu;
nhưng việc ấy đă không ngăn trở ngài làm
được những công việc b́nh thường của
ngài; mặc dù, sự thực là năm vừa qua, ngài đă
không dám liều lĩnh đi sang xứ Đàng Trong.[13]
Ngày lễ Đức Bà Lên Trời, ngài bỗng
bị một mụn nhọt mà chúng tôi tưởng là ngài bị
trĩ; nhưng mụn nhọt phát lên thành nấm khiến
ngài phải chịu những cơn đau đớn ác nghiệt.
Ngài phải khổ sở chịu chúng tôi trị đặt
những thuốc thang cần thiết.[14]
Đức vua xứ Xiêm La cho gửi tới
ngài những thày thuốc của đức vua. Họ cho
ngài một lượng lớn những thuốc thang.
Nhưng mọi thứ ấy chẳng giúp ngài được
sự ǵ, ngược lại c̣n làm ngài đau đớn
thêm.
Sau đó, ngài bị cơn sốt nóng lạnh[15],
bị khát nước, bị đi tiểu không ngừng,
điều này khiến nghĩ rằng ngài không bị sạn.
Nhưng lúc ngài chết rồi, chúng tôi mới t́m ra
được ba ḥn sạn lớn dính cả lại với
nhau, điều mà trước đó chúng tôi không dám chắc,
bởi chẳng bao giờ muốn chịu để khám
xét, lư do là v́ việc ấy vô lễ sỗ sàng. Cùng với
ba ḥn sạn, người ta c̣n thấy nơi ngài bọng
đái đă hoàn toàn hư thối và lở loét, một trong
hai quả thận sưng lớn như nắm tay với một
mụn lở lói, do đó khiến nước tiểu của
ngài rất nặng mùi.
Trong những tháng đầu, ngài c̣n chỗi
dậy được; nhưng sau th́ ngài buộc ḷng phải
hành xử ngay trong giường. Bởi thế, lại làm
ngài chịu thêm mụn ghẻ lở nhiều nơi. Vào thời
cuối cùng, ngài chỉ c̣n lại da với xương. Lúc
ban đầu, ngài không thể đi việc cần thiết
tiêu tiện được; và vào những thời gian sau
cùng, ngài lại bị chứng đi tả.
Thật là thương xót khi nghe những tiếng
kêu la của ngài khi những cơn đau đớn lại
trỗi lên, gần như cứ từng mỗi khắc
đồng hồ hay cứ nửa giờ một. Mà ngài
thường bảo rằng tất cả sự ấy chẳng
là ǵ hết so với sự buồn phiền và cay đắng
ngập trong linh hồn ngài. Bởi v́ Thiên Chúa đă cất
hết nơi ngài mọi sự an ủi nội tâm. Chỉ
c̣n lại cho ngài một tia sáng nhỏ nhoi, mà tôi không biết
là ánh sáng ǵ, đă không để ngài tuyệt vọng. Ngài
rơi vào những nỗi lo lắng và những sự tối
tăm rất mực lạ lùng đến nỗi ngài không
biết phải nằm quay ḿnh về phía bên nào nữa. Ngài
khiến khiêng ngài đi từ chỗ này sang chỗ khác. Và
trong buồng ngài, ngài đổi giường liên tục.
Tuy nhiên, v́ ngài thấy rơ là chúng tôi coi là lạ lùng những
nỗi lo lắng của ngài như vậy, ngài xin là đừng
lấy đó làm gương xấu. Phải cho sự ấy
vào cái tự nhiên đang than thở kêu than[16].
Nhưng cho dù tất cả giác quan đă hoàn toàn rơi vào
trong hỗn độn và thảm hại, ngài vui hưởng
một niềm vui sâu thẳm trong đáy linh hồn ngài. Mặc
dù con thú nằm trong cực h́nh man dại, sự b́nh an
nơi thượng phần vẫn không hề phai nhạt[17].
Ngài kêu than lên cùng Thiên Chúa, gần tựa
như ông Gióp đă làm khi tới cùng cực những nỗi
đau khổ. Lời thường xuyên hằng ngày trên miệng
ngài chẳng là lời nào khác hơn lời này : «Auge dolorem,
auge patientiam». Ngài nói rằng dù đôi lúc ngài đă có thốt
lên những lời kém kiên nhẫn, rằng ngài không thực
t́nh muốn thế, rằng ngài tuyệt đối chỉ
muốn điều Chúa muốn. Người ta đề
nghị ngài làm vài lời khấn hứa nào đó để
xin Chúa cho được sức khỏe lại; nhưng
khi đă kể cho tôi điều người ta đề
nghị với ngài, ngài kết luận rằng ngài không dám
xin Chúa cho được sức khỏe, và rằng ngài chẳng
hề biết rơ đó sẽ là cùng sách hay không, xét về tuổi
tác của ngài cùng những liệt lào ngài chịu. Ngài nói rằng
ngài không c̣n quỳ gối được nữa, cũng chẳng
làm việc đánh tội được, rằng ngài sẽ
gây gương xấu cho các thừa sai.
Ngài t́m được sự nâng đỡ
khi thấy đặng vài người trong chúng tôi. Nhưng
v́ ở đây có vô vàn công việc, nên thường khó ḷng
mà giúp đỡ được ngài. Chính ngài bảo chúng tôi
thoái ra mà nói hăy đi làm việc của Thiên Chúa và hăy để
ngài đau đớn.
Không bao giờ sự phán đoán của ngài
bị giảm sút. Luôn luôn ngài trả lời cho tất cả
mọi sự người ta đề nghị ra với
ngài, cũng y như thời ngài mạnh khỏe.
Thường xuyên ngài rước Ḿnh Thánh
Chúa. Chúng tôi không thể tin nổi ḷng sốt sắng thánh
thiện mà ngài đă tỏ ra khi lănh nhận những bí tích
sau cùng của Giáo Hội.
Cuối cùng, ngài đă phó linh hồn cho Chúa
trong tư cách con người đích thực của sự
thương khó như ngài đă luôn luôn sống thế vậy,
giữa những thánh giá và những nỗi khổ đau,
(dù) bên ngoài và bên trong không như nhau[18],
ở mọi nơi mà Thiên Chúa dẫn đưa ngài qua hầu
để ngài chết đi trọn vẹn và để biến
ngài nên bất khả thông phần vui mừng nào, nói
được như thế, vào điều mà Thiên Chúa thực
hiện qua ngài».[19]
Thừa sai Gayme c̣n gửi thừa sai Sevin một
thư nữa, rằng[20]
:
«Ngày 22.11.1679
Tôi quả quyết với cha rằng đức
cha đă chịu đau đớn hết sức ngài có thể
chịu được. T́nh cảnh của ngài khiến tôi
động ḷng thương cảm. Và nhất là vào cuối
đời ngài, nỗi lo buồn đă xâm chiếm ngài quá sức
đến nỗi cứ phải đổi giường nằm
cho ngài mỗi một khắc đồng hồ.
Cha Gioan d'Abreu lúc đó có mặt ở Xiêm La
đă tới thăm ngài với cha Motta, bốn mươi
ngày trước khi ngài ra đi. Một người Bồ
Đào Nha tại Ma-cao nhiều thiện chí đă muốn
giúp đức cha một vài vị thuốc. Thuốc của
ông ta đă giảm dịu cho đức cha được
một ít lâu, nhưng cơn đau lại quá lớn».
&
Đức cha Pallu[21]
:
«Đức cha Bêritê quỵ ngă trong nhiệm
vụ; nhưng ngài đă biết khéo léo dàn xếp những
tâm trí và hoà giải mọi sự nhờ tính dịu dàng,
kiên nhẫn và độ lượng của ngài, nhờ
gương sáng một đời sống thánh thiện,
luôn luôn mực thước, không bao giờ lay chuyển
dưới cách thức nào đi nữa, nhưng đặc
biệt nhờ kinh nguyện khẩn thiết của ngài
nơi Thiên Chúa và sau hết, ngài đă đem về tất
cả mọi ḷng trí xa cách. Ngài đă nên một bậc thày
và sắp đặt tất cả theo như ngài muốn. Tất
cả những ai biết đức cha Bêritê đều hiểu
rằng khó mà t́m được một người nào thích
hợp riêng như ngài vào nhiệm vụ được ủy
thác mà ngài thực hiện.
Sau Thiên Chúa ra, chính nhờ ngài mà người
ta có được những công tŕnh tại Xiêm La, tại
Đàng Trong và tại Đàng Ngoài. Giữa những công tŕnh
đó, ngài đă phải vượt qua nhiều khó khăn
và chịu đựng những công kích rất kịch liệt.
Ngài đă khéo léo trang bị cho hai sứ mệnh thừa sai
sau này[22]
chống lại sự ly khai (trong Giáo Hội), đó đă
là chuyện công khai; hai sứ mệnh rao truyền trên vẫn
đứng vững cho tới rầy, lại được
tăng cường thêm nhiều và phát triển mạnh, cho
dù những kẻ cạnh tranh với chúng ta vẫn mang ḷng
ham muốn và có những cố sức liên tục.
Thiên Chúa đă ban cho ngài một tinh thần
dũng cảm, không hề biết đầu hàng, cũng
không hề nhu nhược, khi ngài thấy cái lư nằm bên
phía ngài. Tuy nhiên, ngài biết nhượng bộ kịp thời
khi cần, và cho đi sự ǵ đó để đạt
được điều cơ bản.
Ngài đáng kính phục nhất là trong những
phương pháp xử lư mà ngài không bao giờ thiếu. Sau
hết, ở đây, không khi nào ngài thực hiện sự
ǵ quan trọng mà ngài lại không đi tới cùng. Những
đối thủ của ngài là những người Bồ
Đào Nha, người Hoà Lan, người Anh và nhiều nhân
vật thế giá khác, người giang hồ[23],
người Trung Hoa, người Xiêm La. Ngài vượt thắng
được tất cả và bó buộc họ phải
nhượng bộ, mà không bao giờ làm họ bị tổn
thương. Và tất cả những sự đó, ngài thực
hiện mà không bao giờ ra khỏi căn pḥng ḿnh, hoặc
có ra th́ cũng cực kỳ họa hiếm, và có thể
nói chẳng bao giờ ngài xuất hiện mà vùng vẫy khuấy
động».[24]
Tại Roma, v́ chưa hay tin đức cha
đă qua đời, ngày 4.10.1679, đức giáo hoàng Innôcentê
XI viết gửi sang ngài bức thư sau[25]
:
«Ngày 4.10.1679
Những bức thư mà đức cha
đă viết cho ta từ Xiêm la làm cho ta được vui
mừng, và vui mừng hơn nữa v́ phải mất thời
gian dài thư mới tới được ta, nếu
như gọi được là lâu thời gian mà thư từ
đến từ chốn xa xôi ấy. Ngoài sự kính trọng
mà đức cha đă biểu lộ ra đối với bản
thân ta, không phải v́ công trạng cá nhân của ta, song v́ sự
quan pḥng của Thiên Chúa đă đặt ta trên Toà này mà
điều khiển Hội Thánh, ta rất hân hoan được
hay tin mùa gặt phong phú, vào những ngày này, cho cánh đồng
của Chúa được thêm bội phần nơi những
vùng đất xa xôi đó.
Tin tưởng rằng đức cha làm việc
hăng say cho công tŕnh đáng ca tụng ấy, và đức
cha có nhiệt huyết truyền bá đức tin công giáo, với
t́nh cảm thắm thiết nhất trong t́nh yêu
thương của người cha, ta ôm hôn đức cha
trong Chúa; hăy tin rằng sự giúp đỡ của ta luôn
luôn trợ lực những cố gắng đạo đức
mà đức cha không ngừng thực hiện, hầu đạt
tới mục đích sang trọng của đức cha và
thu được phần thưởng dọn sẵn trên
trời cho đức cha.... Ta thân ái ban cho đức cha
phép lành tông đồ».
./.
Mộ của đức cha Lambert de la Motte bị xúc
phạm
Ngày 18.5.1688, tại Juthia, một quan cận
thần tên là Pitracha, nhờ sự hưởng ứng của
giới tu sĩ Phật giáo, nổi loạn đem quân bao
vây triều đ́nh. Vua Phranarai bệnh hoạn và buồn
phiền mà chết trong cung đêm ngày 10 tháng bảy sau
đó.[26]
Vào tháng 11 tiếp theo, đức cha Laneau,
các thừa sai, các thày chủng sinh và nhiều giáo hữu bị
bắt vào tù. Ngôi nhà Chủng viện Thánh Giuse tại Juthia
bị cướp phá, rồi được dùng làm trại
lính và chuồng nuôi ngựa.[27]
Thừa sai Martineau người Pháp là một
trong ba thừa sai không bị bắt vào tù, v́ ngài đă già
nua, ra sống trong giáo xứ Việt kiều cạnh Chủng
viện. Ngài viết lại một bài tường thuật
về vụ bách hại này (từ ngày 9.11.1688 đến
28.7.1690)[28].
Trong đó, có đoạn nói đến chuyện phần mộ
của đức cha Lambert de la Motte bị xúc phạm
như thế nào :
«Cơn thịnh nộ và cuồng điên
chúng chống lại chúng tôi cứ đổ lên đầu
lên cổ những kẻ c̣n sống như vậy, nhưng
chưa đặng thỏa thích, chúng lại c̣n t́m đến
cả những người đă chết, hay đúng
hơn, đến những hài cốt của người
quá văng c̣n lưu lại cho chúng tôi. Chúng t́m tới tận mồ
mả người đă chết : chúng khai quật
xương cốt đức cha Bêritê và th?a sai De Chandebois[29]
lên, ném khắp bên này bên nọ[30].
Nhưng ḷng đạo đức của những giáo dân Việt
kiều Đàng Trong đă thúc đẩy họ đến
thu lượm những hài cốt ấy mà đem chôn cất
lại. Tôi biết rằng ḷng gian tà và cơn đói khát
vàng bạc nơi những kẻ ngoại đạo là
nguyên do mạnh mẽ nhất khiến chúng lục lạo
như thế đến tận các phần mộ, tin rằng
cứ như phong tục của họ, sẽ t́m được
chút ǵ nơi đó».
Tháng 8.1690, tất cả được ra
khỏi tù, Chủng viện Thánh Giuse được trao trả,
song chẳng c̣n lại ǵ trong đó.
./.
[1] Toàn
bức thư đă được tŕnh bày ở
Chương Một.
[2] Tài
liệu viết tay : AMEP. 858, 207. Đăng trong A.Launay :
«Histoire de la Mission de Siam. Documents historiques I», (Téqui - Paris
1920), trang 24.
[3] Bức
thư này ghi tháng 6.1671, tức một tháng trước khi
đức cha rời Juthia sang thăm Đàng Trong lần thứ
nhất.
[4] Thư
đề ngày 10.12.1674, đă trích dịch ở
Chương Bốn.
[5] «Relation
des missions et des voyages des evesques... 1672-1675», (C.Angot - Paris 1680),
trang 61.
[6] «Par
la rencontre heureuse de plusieurs sujets qui se trouvèrent disposés à ce
dessein».
[7] D’Aiguillon
: Marie-Madeleine de Vignerot, cháu của Richelieu.
[8] A.Launay :
«Histoire de la Mission de Siam : 1662 - 1811», (Téqui - Paris 1920).
[9] Trang
14.
[10] Về
sự tái xây dựng ḍng Mến Thánh Giá tại Xiêm La vào giữa
thế kỷ 19, xem Robert Costet : «Notes d’histoire chrétienne de la
Thailande», phần I, trang 77-78, (tài liệu tham khảo nội
bộ, Hội Thừa Sai Paris).
[11] Tài
liệu viết tay : AMEP., 860, 21. Đăng trong A.Launay :
«Histoire de la Mission de Siam, Documents historiques, tome I», trang 72.
[12] Tài
liệu viết tay : AMEP., 860, 25. Đăng trong A.Launay :
«Histoire de la Mission de Siam, Documents historiques, tome I», trang 73-74.
[13] «A
la vérité, il n’osât se hasarder l’an passé d’aller à la Cochinchine» : theo lời
này th́ đức cha Lambert de la Motte đă có ư đi thăm
Đàng Trong một lần thứ ba vào năm 1678.
[14] Như
đă tŕnh bày, vào thời công đồng Juthia 1664, ngài
đă có ư định lập nên một «Hội ḍng tông
đồ» với lời hứa phụ thuộc là «bị
bệnh, không dùng đến thuốc thang». Ở đây,
thái độ của ngài chứng tỏ cho thấy sự
vâng phục trọn t́nh của ngài đối với Toà
thánh.
[15] «Une
fièvre éthique avec une fièvre putride».
[16] Nguyên
văn : «Qu’il fallait donner cela à la nature qui se plaignait». Có thể hiểu là v́ cái thể lư tự
nhiên của ngài đă suy sụp, nên thái độ tinh thần
của ngài sinh ra như thế ; đó là chuyện
đương nhiên.
[17] Nguyên
văn : «Bien que l’animal fût à la torture, le calme de la partie supérieure n’en
ressentait point de l’altération.» ? Ở
đây, phải chăng «con thú» là cái thân xác và linh hồn con
người nơi đức cha Lambert de la Motte ; c̣n
«thượng phần» là «đáy linh hồn ngài» nơi vẫn
c̣n lại «một niềm vui sâu thẳm».
[18] Nguyên
văn : «Au milieu des croix et des souffrances, non pas tant extérieures qu’intérieures». Lời này khiến ta nhớ
lại : «Ngài thường bảo rằng tất cả
sự ấy chẳng là ǵ hết so với sự buồn
phiền và cay đắng ngập trong linh hồn ngài.»
[19] «Từ chối mọi niềm vui vẻ
có thể đến từ một thụ tạo hay ngay cả
từ những ân huệ trên trời» : trong lời khấn hứa đức
cha Lambert de la Motte đă đặt ra thời công đồng
Juthia 1664 : (xem Chương Một).
[20] Tài
liệu viết tay : AMEP., 860, 29. Đăng trong A.Launay :
«Histoire de la Mission de Siam, Documents historiques, tome I», trang 72-73.
[21] Tài
liệu viết tay : AMEP., 102, 508. Đăng trong : «Histoire
générale I», trang 253-254.
[22] Giáo
Hội tại Đàng Ngoài và tại Đàng Trong : một
bên là thừa sai Pháp của Thánh bộ Truyền bá Đức
tin, và bên kia, chủ yếu là các cha ḍng Tên của triều
đ́nh Bồ Đào Nha.
[23] «Maures»
: danh từ thường chỉ những người gốc
Phi Châu, sống hoàn toàn tự do, độc lập với
mọi thể chế quốc gia, lang thang khắp nơi.
[24] Một
đoạn trong tài liệu này đă được dịch
sang Việt ngữ và đăng trong : «Đức cha», trang
21-22.
[25] Tài
liệu viết tay : AMEP., 269, 167. Đăng trong : «Histoire
générale I», trang 254-255.
[26] Về
chuyện này, đă có khá nhiều công tŕnh nghiên cứu, ví dụ
: Dirk Van der Cruysse, «Louis XIV et le Siam», (Fayard 1991).
[27] Văn
khố Hội Thừa Sai Paris c̣n giữ được một
lá thư chữ quốc ngữ của linh mục Paulinô Kảnh
Huệ tả lại việc cầm tù và t́nh trạng rối
ren tại Juthia lúc đó : AMEP., 880, 495-504.
[28] Tài
liệu viết tay : AMEP., 854, 523-684. Đăng trong A.Launay
: «Histoire de la Mission de Siam, Documents historiques, tome I», trang 223.
[29] Thừa
sai Claude Chandebois de Falandin sinh năm 1640, đến Xiêm La
năm 1673 và qua đời tại đây tháng 12.1687.
[30] Nguyên văn : «Ils déterrèrent les
ossements de Mgr de Bérythe et de M. de Chandebois qu’ils jetèrent de côté
et d’autre».
./.