chương bảy
Mến Thánh Giá cuối thế kỷ 17
tại Đàng Ngoài
Địa phận Đàng Ngoài, từ những
năm 1679, đă được chia ra làm hai địa phận
: địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) do đức
cha De Bourges (hiệu toà Auren) cai quản, và địa phận
Đông Đàng Ngoài (Hải Pḥng) do đức cha Deydier (hiệu
toà Ascalon) chăm sóc. Sau ngày đức cha Deydier mất
đi v́ bệnh suyễn (1.7.1693), địa phận
Đông Đàng Ngoài được trao phó cho các thừa sai
ḍng Đa Minh trông coi.[1]
Dưới quyền các giám mục và bên cạnh
một vài thừa sai Tây phương, các linh mục và các
thày giảng Việt Nam đă tạo nên một mạng
lưới tông đồ tích cực cho Giáo Hội tại
Đàng Ngoài trong việc sống c̣n và phát triển. Song song
đó, ḍng nữ Mến Thánh Giá vẫn lặng lẽ
đâm rễ sâu trong ḷng một cộng đồng tín hữu
không ngừng bị vua quan bóc lột, bắt bớ và hăm hại.
Một vài mẫu chuyện góp nhặt
được tŕnh bày sau đây sẽ dệt nên như một
tấm thảm, cho chúng ta được cái nh́n tổng
quát về sự phát triển của ḍng Mến Thánh Giá tại
Đàng Ngoài như thế nào.
&
1681 : Hỏi cưới người nhà ḍng[2]
Câu chuyện sau nằm trong bản tường
tŕnh sứ vụ rao giảng tại Đàng Ngoài năm
1681, (12.1680 - 12.1681). Chuyện kể rằng :
«Trong làng gọi là Trân Linh, một bổn
đạo tên là Gio-a-kim đă có ư cưới cho một
trong các cậu con trai ḿnh một thiếu nữ đă vào
nhà các chị em Mến Thánh Giá v́ ước ao dâng ḿnh cho
Chúa. Cha mẹ đôi bên trai và gái đă quyết định
đám cưới này trái với ư muốn của người
con gái. Họ làm áp lực cô ta bằng những lời ngọt
ngào và dọa dẫm bắt nàng phải rời nhà ḍng mà nhận
lấy phần mà họ đă định cho nàng. Người
con gái vẫn giữ ḷng cương quyết và làm ngơ
làm điếc trước những ǵ cha mẹ nàng có thể
nói được. Cha của người con trai v́ cho là
người con gái này cứng đầu từ chối con
trai của ông, nên nổi giận đích thân đến nhà
các chị em Mến Thánh Giá. Ông xử thẳng với bà bề
trên mà ông nghĩ là do bà mà người con gái ấy chẳng
muốn lập gia đ́nh. Ông chửi bới bà bề trên cũng
như toàn thể cộng đoàn mà thốt ra miệng
lưỡi tất cả những ǵ sôi sục trong ḷng ông
ta.
V́ cơn ngược ngạo và những vu
khống của ḿnh, ông chẳng được yên lâu dài mà
không bị trừng phạt. Ba ngày sau đó, ông ta trở
thành mù loà và nh́n nhận rằng đó là một h́nh phạt
rất đúng v́ những thái độ của ông. Ông xin dẫn
đến nhà các chị em Mến Thánh Giá, khiêm tốn xin lỗi
bà bề trên và tất cả các d́[3]
v́ những lời chửi bới và cáo gian mà ông đă thốt
ra chống lại các chị em, cùng van nài các chị em khẩn
nguyện với Chúa tha thứ cho ông. Ông tuyên bố rằng
sẽ không bao giờ c̣n kháng cự lại ư định của
những kẻ ao ước dâng ḿnh cho Thiên Chúa nữa.
Sự trừng phạt trên đă làm
gương cho những kẻ có đạo khác».
&
1682 : Nhà ḍng Kiên lao[4]
«Ngày 19 tháng Giêng, đức Đại diện tông toà[5]
thăm viếng cộng đoàn các D́ Mến Thánh Giá (tại
Kiên Lao). Ngài dẫn theo ngài các thày chủng sinh và hai ông trùm
chánh của xứ đạo này. Ngài cho họp lại trong
nhà nguyện của các chị em, nằm ngay lối vào nhà
ḍng; và sau kinh chiều, ngài xem xét tất cả các chị
em, người này đến người nọ, lắng
nghe các khó khăn họ đưa ra. Ngài ghi chú ngay tại
chỗ những sự đáng được chuẩn xét hầu
luật lệ (nhà ḍng) được tuân giữ chu đáo
hơn.
Sau chuyện trên, ngài giải tội cho tất
cả chị em và khuyến khích họ chớ hề sao
nhăng một việc đạo đức nhỏ mọn
nào, cho dù thời kỳ thật khó khăn v́ nạn đói
lớn trong toàn vương quốc. Ngài c̣n đặt lên một
«chị đốc đạo»[6].
Chị này, ngoài chị bề trên và chị phụ tá bề
trên ra, sẽ phải lo lên tiếng cảnh tỉnh về
việc giữ luật nhà mỗi khi chị ấy thấy
là các chị em lơ là mà lo đi kiếm những sự cần
thiết cho đời sống[7].
Ngài dâng Thánh lễ cho các chị em. Và v́ gặp
trúng bài Phúc Âm người đàn bà xứ Cananêa, ngài giảng
một bài khích lệ về phương cách cầu nguyện,
trong khi đó các thiếu nữ đáng thương cứ
khóc lóc cả như mưa. Sau ấy, ngài cho các chị em
rước lễ.[8]
Lúc lui chân, ngài gửi cho các chị em phần
của dâng cúng mà các bổn đạo đă thực hiện
trong thời gian ngài ở giáo xứ nói trên, để nâng
đỡ các chị em trong sự cần thiết của họ.
Ngài c̣n xin các bổn đạo hăy giúp đỡ các chị
em, điều mà chẳng những họ làm cho sự
ăn uống của các chị em, mà c̣n dựng lại nhà
cho các chị em nữa, là điều thực cần thiết».
&
1682-1683 : Đức cha Deydier
Sau khi thừa sai De Bourges sang Xiêm La (1.1682)
để được tấn phong giám mục, thừa
sai Deydier đi thăm viếng các họ đạo và ghé lại
yên ủi các chị em Mến Thánh Giá tại làng Van-no[9].
Năm sau, vào tháng Giêng 1683, thừa sai Deydier được
thụ phong giám mục qua một thánh lễ do đức
cha De Bourges cử hành trong ngôi nhà riêng của các ngài tại
Phố Hiến. Đức cha De Bourges viết thư cho cha
Fermanel ở Paris báo tin rằng : «Phải chấm dứt
(lá thư) mà nói với cha một lời sẽ làm cha ngạc
nhiên, rằng lễ tấn phong người bạn thân yêu
và là người đồng nghiệp bất khả phân ly
của chúng tôi, Đức cha Ascalon, đă diễn ra trong
nhà bếp của chúng tôi. Đă có bao giờ cha nghe nói một
nghi lễ như vậy lại được cử hành
trong một nơi như thế chăng ? Tuy nhiên, cái nghiệt
ngă mà chúng tôi đang gặp trong xứ này đă thu hẹp
chúng tôi vào đấy...»[10]
&
1684 : Xứ Kiên Lao và xứ Kẻ Riên
Xứ Nghệ An là xứ nhiều bổn
đạo, làng Kiên Lao là nơi được các giám mục
chọn để dựng tiểu chủng viện vào
năm 1683. Hai thừa sai Sarrante và Delavigne[11]
lo việc dạy dỗ các học tṛ. Nhà Mến Thánh Giá
Kiên Lao quy tụ tới 16 chị em mà trong kỳ bắt
đạo năm 1684, «bà Mẹ đă khôn ngoan cho tất cả
chị em phân tán đi trước vào những nơi an toàn
và bầy biện nhà ḍng chẳng có chi đặc biệt
hơn là một căn nhà riêng của bà».[12]
Trong khi đó ở xứ Kẻ Riên, nhà thờ
th́ do ông lang y tên thánh là Phaolô xây dựng dâng cúng cho bổn
đạo.
Đă từ 10 đến 12 năm nay, vợ
chồng ông sống trong đức khiết tịnh : «Vợ
ông làm nhà riêng mà nuôi dạy một vài thiếu nữ theo các
nghĩa vụ của chị em Mến Thánh Giá». Trong cơn
bách đạo, tên chỉ điểm t́m đến nhà các
thiếu nữ đồng trinh này, nhưng các cô đă trốn
đi từ trước rồi. Chỉ c̣n xót lại hai
quyển sách đạo mà các cô làm rơi trong lúc vội
vàng. Ông lang Phaolô bị bắt v́ người ta tưởng
ông là linh mục, nhưng sau rồi cũng được
tha về.[13]
&
1683-1684 : Can đảm đi tu[14]
«Đức Giám quản
Đại diện tông toà gặp
một thiếu nữ tuổi 22. Ḷng trung kiên giữ đạo
và giữ đức khiết tịnh của nàng đáng ca
ngợi quá đến không thể để nàng vào sự
im lặng được.
Cô gái này gốc người xứ Đông
(tức Hải Dương), thuộc làng Kẻ Giao. Cha và mẹ
và cả họ hàng nàng vẫn c̣n ngoại đạo. Làm bạn
với vài thiếu nữ Công giáo và học được
mấy lời kinh cầu nguyện, nàng xin được
thụ giáo nhân một ngày cha xứ là người quản
nhiệm tỉnh này đi ngang qua chỗ đó; nàng đă tỏ
ra nhiều dấu muốn giữ đạo Công giáo nên nàng
được rửa tội và được gọi là
Anna.
Cha và mẹ nàng lấy cho nàng một ông chồng
ngoại đạo mà họ đem về tại nhà họ.
Họ thường bảo với con gái của họ rằng
họ sẽ cho phép nàng giữ đạo Công giáo nếu
nàng thuận tỏ ḷng âu yến người con trai ấy;
nhưng Anna luôn luôn trả lời rằng nàng không muốn
nhượng theo ư ấy của cha mẹ nàng.
Một bữa nọ, cha nàng đă mệt mỏi
trong những đường dịu ngọt, bèn trói hai tay
nàng vào một cây cột nhà ḿnh và đánh nàng cả hai chục
cây gậy trên lưng. Ông ta hẳn sẽ đánh nàng chết
mất nếu chẳng có các người hàng xóm chạy
đến mà giật lấy cây gậy trong tay ông. Cô gái
đáng thương chỉ chịu 5 hoặc 6 gậy đầu
tiên. Sau đó, nàng bị bất tỉnh nhân sự và có lẽ
chẳng thể nào tỉnh dậy được nếu
như không được một chị em họ hàng
chăm sóc mà cho nhiều thuốc thang cùng lo chạy chữa
các vết thương của nàng, mặc ư của cha nàng
là muốn người ta để kệ cho nàng chết
đi. Người ta phải khó nhọc lắm mới cản
được ông ta đừng đánh gẫy chân nàng
để nàng khỏi đi với chúng bạn Công giáo t́m
các cha bên đạo mà dự các nghi lễ.
Một vài tháng sau, Anna b́nh phục; cha nàng
ngày kia có sự khó ở khác : thấy con gái ḿnh chẳng tỏ
ḷng yêu thương đứa con trai, ông quyết tâm phải
làm cho nàng nhận chuyện cưới gả hay đánh cho
nàng đến chết. Ông cầm trong tay một cái chầy
và bắt đầu đánh đập nàng rất tàn bạo.
Đến cái thứ tư, nàng bị ngă ngửa ra. Thấy
tính khí cha ḿnh sẽ khiến ông đi đến cùng lời
ông đă nói mà đánh nàng cho đến chết, nàng bèn nói
ra là nàng sẽ làm như cha nàng muốn, cho dù nàng chẳng
nghĩ tới chuyện ǵ, lại càng không nghĩ đến
chuyện cưới người ngoại đạo
đó. Nàng chỉ nghĩ một điều là làm tất cả
những ǵ cha nàng muốn mà không trái với điều nàng
tin là Thiên Chúa đ̣i hỏi nơi nàng. Bởi v́ lúc đó
nàng quyết định trốn khỏi nhà cha mẹ nàng.
Quả vậy, nàng chẳng chờ chữa chạy cho ḿnh
khỏi hoàn toàn : không thể trốn đi vào ban ngày bởi
cha mẹ nàng thường xuyên canh chừng, nàng trốn
đi vào ban đêm. Người ta đuổi theo sau
nhưng không bắt lại được nàng, v́ nàng
bơi qua một nhánh sông rất lớn, điều mà cha mẹ
nàng không thể nào tưởng tượng được.
Nàng đi t́m đến những người
có đạo quen biết; họ dẫn nàng sang xứ Nam (tức
Nam Định). Đức Đại
diện tông toà, sau khi đă xem xét nàng và đă thấy
nhiều dấu tốt đẹp về ơn gọi của
nàng, giao nàng cho bà bề trên một Nhà Mến Thánh Giá. Và hiện
tại, lúc chúng tôi viết sự này, th́ đă được
20 tháng rồi, người con gái tốt lành đó vẫn
trung kiên, giữ các nghĩa vụ như những chị em
Mến Thánh Giá».
&
1683-1684 : Sống như nữ tu
Vào quăng năm 1683-1684, thừa sai Sarrante[15]
được sai đi Nghệ An.
«Trong thời gian ngắn ngủi thừa
sai Sarrante ở tại tỉnh này, ngài chỉ thăm viếng
được ba nhà thờ Kẻ Hương Khê, Bút Cang và
Kẻ Trầu.
Ngài đă viết rằng trong xứ Kẻ
Hương Khê, ngài gặp được 9 hay 10 phụ nữ
và thiếu nữ không giống như các bổn đạo.
Thực vậy, mặc dầu chị em không sống thành cộng
đoàn và dưới cùng một mái nhà, như các chị em
Mến Thánh Giá, nhưng họ thường hay hội họp
nhau lại hơn tất cả những bổn đạo
khác để làm việc đạo đức; và mặc dầu
họ bận bịu công việc buôn bán mọi thứ hàng
hoá khác nhau, nhưng h́nh như họ chỉ lao nhọc
để làm việc bác ái nhờ lợi nhuận trong việc
buôn bán.
Và tại Kẻ Trầu, ngài xác nhận là
có gặp độ ba chục người và nhiều
người c̣n hơn cả lời bên Pháp người ta
thường gọi là những kẻ tận tâm tận
t́nh nữa».[16]
&
1685 : Gia đ́nh linh mục
Philiphê Trà[17]
Câu chuyện sau là
chuyện gia đ́nh của một linh mục Việt
«... Lúc người
linh mục tốt lành ấy được nâng lên chức
vụ thày giảng, ngài đă bắt đầu ngay trong
chính gia đ́nh ḿnh. Ngài khuyên nhủ em trai và chị gái của
ngài khéo léo đến độ cả hai khi đến tuổi
lập gia đ́nh đă bỏ đời này mà dâng ḿnh cho
Chúa.[18]
Em trai của ngài tên
là Timôthêô đă dâng cúng cái sản nghiệp nhỏ bé của
ḿnh dùng để sống cho ba cộng đoàn Mến Thánh
Giá được hưởng chung và tự nguyện phó
ḿnh trong tay các Đức Đại diện
tông toà. Hiện nay, anh vẫn là một trong những đầy
tớ trung thành và nhiệt tâm nhất của các ngài.
Chị của ngài, gọi
là Têrêsa, đă vào một trong những cộng đoàn các Thiếu
nữ Thánh giá[19].
Và cho dù sức khỏe chị c̣n mỏng manh, trong ṿng 2 hay
3 năm sau nàng đă được chọn là «chị
đốc đạo» của cộng đoàn. Sau cùng,
đă ba năm nay chị là bề trên một trong các nhà này
và hướng dẫn khôn ngoan 10 hay 12 chị em dưới
quyền. Người ta có thể ca tụng rằng gia
đ́nh của chị (tức nhà ḍng) là nhà khéo tổ chức
hơn tất cả, bởi chưng với những bệnh
tật của ḿnh, chị có thể được miễn
khỏi phần lớn những nghĩa vụ nhọc nhằn,
nhưng chính chị lại làm gương cho các chị em về
ḷng khiêm nhượng và sự hăm ḿnh, (luôn) là người
đầu tiên đưa tay vào việc. Vị Đại diện tông toà viết sự
này nh́n nhận rằng ngài đầy xấu hổ khi thấy
người phụ nữ ấy dự cái chết của
người anh yêu dấu ḿnh và chịu lấy với ḷng
cứng rắn hơn chính ngài».[20]
&
1686-1687 : Mẹ bề trên
Paola[21]
«Cha Félix Tắn[22]
đi thăm một vài nhà thờ nằm phía dưới phố
Hiến ba hay bốn dặm đàng. Ngài đến một
làng tên là Kẻ Bôn. Ngài ở nhà một trong các chức sắc
làng là người có đạo; ngài tụ tập bổn
đạo tại đó để giải tội và dâng
thánh lễ trong đêm hôm ấy...
Khi cha Félix vừa làm
xong lễ th́ người ta đến đưa tin (bắt
đạo) cho ngài hay. Trước hết, ngài thu dọn
đồ lễ và cho chuyển từng ít một ra khỏi
làng, cùng trao phó cho một bà thuộc giới triều
đ́nh, tên là bà Paola... Bà hứa với cha Félix sẽ lo lắng
cẩn thận. Bà khuyên cha v́ sự an toàn cho ḿnh, hăy trốn
sang một làng khác...[23]
Bà Paola, thấy cha
Félix ra đi rồi, liền xuống một chiếc thuyền
lớn với Mẹ Paola là bà bề trên chính của các nữ
tu Mến Thánh Giá. Từ mấy hôm trước, bà bề
trên đă tới làng này để mua gạo dự trữ
cho gia đ́nh ḿnh và mấy người khác cùng theo bà. Ngay
khi bà xuống thuyền và với tư cách chủ nhân, bà muốn
hỏi xem sự thay đổi mà bà trông thấy ở trên
thuyền, th́ ông hương trưởng đă chồm lấy
bà, túm tóc bà, đối xử với bà một cách bất xứng
và gọi bà là vợ tên đầu xỏ bọn cướp
bóc này. Sự thể như vậy cho dù tên đáng
thương ấy đă khám xét cả thuyền và chẳng
gặp một thứ hàng hóa nào, chỉ thấy độ
8.000 hay 10.000 đồng tiền, gạo đủ ăn
cho quăng mười lăm ngày và nhiều đồ đạc
thuộc về trong đạo công giáo...»
Sau đó, bà Paola và Mẹ
Paola liền bị bắt trói và bị giải đi lên
quan. Ba chiếc thuyền - hai của cha Félix và một của
Mẹ Paola - bị tịch thu. Số người bị bắt
giữ hôm đó là 15 người.
Theo xét xử của
quan, bà Paola và Mẹ Paola sẽ phải chịu mỗi
người là 30 ngọn đ̣n :
«Thiên Chúa lúc đó ban
cho bà (Paola) và cho Mẹ Paola một ḷng ao ước nồng
nhiệt và một ḷng kiên nhẫn thánh thiện ḥng chịu
đau khổ chút nào đó cho t́nh yêu của Ngài». Mọi
người bị dẫn ra chợ Phố Hiến đông
người :
«Bà Paola và Mẹ Paola
là những người đầu tiên bị đánh
đ̣n, vẫn giữ nguyên y phục thường mặc
theo như phong tục. Người ta đánh có hơi nhẹ
tay một chút, hoặc v́ lưu ư họ là phái nữ, hoặc
v́ bà Paola là người rất bề thế mà không phải
là không nguyên cớ, v́ bà là ḍng dơi gia đ́nh xưa của
các vua. Và (c̣n v́) Mẹ Paola rất đáng kính với mái tóc
đă bạc trắng...».
Trước đám
quan quân đang cười nhạo đạo Chúa Giêsu, «Mẹ
Paola dù bị quỳ gối trước bọn chúng, đă
nghiêm trang nói với chúng :
«Xin các ông chớ có
cười nhạo những mầu nhiệm này mà các ông
không biết ǵ, sợ rằng một ngày nào đó những
tiếng cười cợt của các ông sẽ hoá thành những
tiếng than khóc vô tận. Hăy nhớ rằng linh hồn các
ông khi ra khỏi xác sẽ đầy tràn sự sợ hăi
khiếp đảm hơn tôi trước các ông đây, tại
toà phán xét kinh khủng của Chúa Giêsu Kitô mà giờ đây
các ông đang chế nhạo. Bởi thế, các ông chớ
có chế nhạo, v́ chắc chắn các ông sẽ ăn
năn hối hận một ngày nào đó, nhưng có thể
sẽ thực vô ích cho nỗi bất hạnh của các
ông».
Các quan xét khảo dọa
nạt bà... Bà phải cúi sát đất và đưa hai vai
cho chúng mà hứng chịu những ngọn đ̣n. Bà nói :
«Các ông thực có thể
làm cho tôi chết được v́ những đ̣n vọt,
và chẳng cần nhiều chi để tôi kết thúc một
chút ngày c̣n lại trong đời tôi, nhưng các ông sẽ
chẳng sao ngăn cản được tôi đứng vững
vàng trong chân lư».
Bản tường
tŕnh cuộc bách hại kể tiếp rằng : «Các Đại diện tông toà (hai đức
cha Deydier và De Bourges) hay được mọi sự xảy
ra tại Phố Hiến nhờ cha Bélot[24]
đă mau mắn viết thư cho các ngài. Các ngài nghĩ rằng
các việc tôn giáo đang gặp gian nan lớn và bản thân
các ngài gặp nguy hiểm nên sau khi cho cất giấu vào
nơi kín đáo mọi sách lễ và phẩm phục của
ḿnh liền rời ngôi nhà ông Raphael de Rhodes là nơi các ngài
thường cư trú mỗi khi đến kinh đô. Các
ngài e ngại sẽ gây phiền hà cho ông già tốt lành ấy
và bà vợ của ông nay đă 76 tuổi và họ chẳng
có đứa con nào[25].
Các ngài rút đi bằng thuyền với duy nhất một
quyển sách nguyện, một ḿnh buồn khổ v́ tai
ương có vẻ sẽ đổ xuống trên đầu
các ngài.
Nhưng Thiên Chúa nhân
lành đă xót thương đến cái Giáo Hội tội
nghiệp này nên Ngài khiến quan trấn phải bận nhiều
chuyện khác hơn...».
&
1686-1687 : Mẹ Têrêsa và Mẹ
Phanxica
Antôn Trịnh Tài
xưa vốn là thày giảng của cha ḍng Tên Fuciti[26],
nhưng sau bị ngài đuổi ra khỏi hàng thày giảng
v́ kém đức hạnh. Hắn bỏ Giáo Hội và đi
làm chỉ điểm cho quan quyền bách đạo.
«Một bữa kia, hắn
vào nhà các chị em Mến Thánh Giá làng Trà Lũ. Mẹ bề
trên Têrêsa đối xử lịch thiệp với hắn,
mời hắn trầu cau là thứ xử dụng ở
Đàng Ngoài như dấu tôn trọng và kính mến. Nhưng
một trong các vị chức sắc của làng đă nh́n
thấy hắn vào trong nhà đó, cho dù ông là người ngoại
đạo song v́ kính nể Mẹ Têrêsa và các thiếu nữ
tốt lành của bà, nên đă theo chân hắn và hỏi hắn
có chuyện ǵ phải làm trong nhà các bà. Hắn đáng bị
lột hết quần áo và bị đưa ra khỏi làng.
Hắn muốn bào chữa, nhưng ông ngoại đạo
bảo hắn : «Nếu anh có quyền hành của quan tỉnh
th́ anh hăy cho xem để chúng tôi c̣n tỏ ḷng kính trọng
và vâng phục đối với quan như chúng tôi phải
giữ; nhưng nếu anh chẳng có th́ anh đáng bị
chúng tôi đập đ̣n cho nhừ tử và quẳng xuống
sông». Chuyện ấy buộc hắn phải rời khỏi
không những nhà các thiếu nữ tốt lành mà ngay cả
khỏi làng nữa. Hắn ra đi mà cương quyết
sẽ đến xin quan những quyền hành cần có
để bắt giữ những kẻ có đạo».
Sau đó, cũng v́ sự
chỉ dẫn của Antôn Trịnh Tài mà quan cho 15 lính đến
xứ Trôn Linh [
&
1691 : Khi vua nổi giận
«Vào cuối tháng tám
năm 1691, hoàng đế xứ Đàng Ngoài[28]
quyết định cưỡng bức tất cả các
phụ nữ có đạo trong hoàng cung của ông phải
chối bỏ đạo. Để đạt tới cùng
một ư đồ rất đỗi độc dữ, ông
nhắn tới trước tiên người đàn bà mà ông
yêu thương hơn hết (là em gái của hoàng hậu, vợ
thứ nhất của ông), tên gọi là Bà Catarina; thấy
bà rất kiên vững trong đức tin của bà, ông liền
đuổi bà xa khỏi ông. Nhưng để dọa nạt
bà mạnh hơn nữa, ông trù tâm bách hại ba bà khác một
cách tàn nhẫn hơn, ba bà này không được ông sủng
ái nhiều (như Bà Catarina).
Bà thứ nhất tên là Nympha....[29]
Cả ba cô gái này quá sợ hăi lời đe
dọa của vua nên ngay từ sáng sớm đă bỏ hoàng
cung ra đi. Các bà đến gặp đức cha Auren (tức
đức cha De Bourges), xin ngài t́m cho các bà một chỗ náu
thân. Đức cha khá hiểu là ngài sẽ rơi vào mối
nguy hiểm nào nếu ngài nhận lời van xin của các
bà; nhưng phải cứng ḷng lắm th́ mới bỏ
rơi những phụ nữ có đạo trong hoàn cảnh
cùng cực mà họ đang phải chịu một cách rất
hiên ngang này. (Bởi đó), ban đầu ngài cho dẫn họ
vào nhà một bà có đạo trong kinh đô, rồi sau th́
vào trong ba nhà khác nhau của các nữ tu Mến Thánh Giá.
Cùng ngày hôm đó, hoàng đế cho người
đi t́m các bà trong nhà của đức cha Auren nhiều lần
và cho sai nói rằng ông đối xử như vậy với
các bà chỉ là để đùa chơi giải trí và rằng
các bà có thể quay trở lại hoàng cung mà không phải sợ
người ta làm hại chi đến các bà...»[30]
Chúng ta không rơ sau này ba phụ nữ nói trên
có trở lại hoàng cung chăng, chỉ biết rằng
cơn nóng nẩy của nhà vua đă kéo dài khoảng 15 ngày,
rồi thôi.
./.
[1] Thực
t́nh mà nói, sự phân chia trên chỉ trên mặt giấy tờ;
c̣n trong thực tế, phải sang thế kỷ thứ 18
sau đó sự phân chia trên mới thành hiện thực trong
việc mục vụ và rao giảng Phúc âm.
[2] Tài
liệu viết tay : AMEP. 679, 275. Đăng trong : «
[3] «Soeurs = d́».
[4] Bản
tường tŕnh năm 1682-1683). Tài liệu viết tay :
AMEP. 657, 22. Đăng trong : «
[5] Đức
cha Deydier. Vào lúc này, ngài đă được phong Giám mục
Ascalon và nhận chức vụ Đại
diện tông toà, nhưng chưa chịu chức Giám mục.
Lễ tấn phong chỉ được cử hành vào
đầu năm sau : 1683.
[6] Nguyên văn
«la zélatrice» mà nghĩa là «kẻ làm sự ǵ với tất cả
ḷng đạo đức sốt sắng». Chúng tôi tạm dịch
là «chị đốc đạo», theo nghĩa người
khuyến khích kẻ khác lo việc đạo đức.
[7] V́ đời
sống rất nghèo của các nữ tu, việc làm ăn
sinh sống có thể khiến các chị em sao nhăng việc
đạo đức trong ḍng.
[8] Đức
cha Deydier rất thông thạo tiếng Việt. Cùng với
đức cha De Bourges, ngài đă soạn thảo trên 40 quyển
sách đạo cho xứ Đàng Ngoài bằng tiếng nôm. Hy
vọng một ngày nào đó sẽ có tác giả t́m hiểu
kỹ hơn về chuyện này. (Xem : «Tonkin. Doc.I», trang 296-297).
[9] Xem
«Tonkin. Doc.I», trang 286. (Ở đây có lẽ là Làng Vạn). (Nói
chung, những tên làng xóm Việt Nam, thật không dễ mà
xác định được khi đọc những tài liệu
do các thừa sai Âu Châu viết lại. Chúng tôi cố gắng
minh xác theo sự hiểu biết riêng, đặc biệt
căn cứ theo một bản viết tay tiếng Việt,
tựa đề «Sổ các thày cả... Các nhà mụ xứ
nam, năm 1800» : AMEP. 692, 921-923).
[10] Tài
liệu viết tay : AMEP. 680, 16. Đăng trong : «
[11] Thừa
sai Delavigne (Gabriel) sinh năm 1657 tại Pháp. Theo đức
cha De Bourges vào Đàng Ngoài tháng 8.1682. Công việc chính của
ngài tại Đàng Ngoài là dạy dỗ các chủng sinh tại
Kiên Lao và Kẻ Cọc. Sau đó ngài sang Pondichéry (Ấn
Độ) , rồi về Pháp năm 1697. Năm 1706 ngài trở
thành giám đốc Chủng viện Hội Thừa Sai tại
Paris và qua đời tại đây năm 1710. (Một lá
thư bằng quốc ngữ của ngài viết năm
1699 được lưu giữ ở : AMEP. 881, 791-793).
[12] Tài
liệu viết tay : AMEP. 657, 82. Đăng trong : «
[13] Xem
:»Tonkin. Doc.I», trang 320.
[14] (Bản
tường tŕnh năm 1683-1684). Tài liệu viết tay :
AMEP. 657, 64. Đăng trong :»Tonkin. Doc.I», trang 350.
[15] Thừa
sai Sarrante (Jean-Louis) đến Đàng Ngoài năm 1682. Qua
đời tại Hà Nội năm 1687, an táng tại Bùi Chu.
[16] Tài
liệu viết tay : AMEP. 657, 100. Đăng trong : «
[17] (Bản
tường tŕnh năm 1684-1685). Tài liệu viết tay :
AMEP. 680, 261. Đăng trong :»
[18] Trong bản
văn Pháp ngữ này, chỉ viết «sa soeur» (mà tiếng Việt
có thể dịch là «chị» hay là «em») ; nhưng dựa trên
các tài liệu khác, chúng tôi hiểu là «chị», chứ không
phải là «em gái» của ngài, cha Philiphê Trà, người làng
Trà Lũ.
[19] «Thiếu
nữ Thánh giá» = «Filles de
[20] Tức
đức cha De Bourges, Đại diện
tông toà đă cho cha Philiphê chịu các bí tích sau cùng.
[21] Tài
liệu viết tay : AMEP. 680, 420; 670, 51. Đăng trong : «
[22] Ngài tên là
Félix Văn Tắn, nhưng sau sẽ đổi thành Văn
Miện. Chịu những chức nhỏ từ tay đức
cha Lambert de
[23] Trong bài
tường thuật cuộc bách đạo này, có hai nhân vật
mang cùng một tên là «Paola» : một người là «bà Paola»,
quả phụ giầu có và nhiều quen biết, một
người là «Mẹ Paola», bề trên các chị em Mến
Thánh Giá.
[24] Thừa sai
Edme Belot (1651-1717) đến Đàng Ngoài năm 1680. Tên Việt
[25] Raphael
de Rhodes là cậu bé xứ Đàng Trong xưa đă dạy
cha Alexandre de Rhodes học tiếng Việt (Xem : A. de Rhodes :
«Divers voyages et missions...», sách đă dẫn, trang 73-74). Sau khi
đi rao giảng Phúc Âm ở Lào trở về, ông định
cư tại Hà Nội, lập gia đ́nh với bà Pia,
nhưng không có con. Cả hai ông bà đă giúp rất nhiều
cho Giáo Hội tại Đàng Ngoài. Ông đă soạn thành
thơ chuyện Tổ phụ Giuse (bên Ai Cập) và chuyện
ông Tobia (tiếc rằng chưa có ai t́m lại được
hai tập sách có lẽ bằng Hán tự này). Ông qua đời
tại Hà Nội, sau khi nhận các bí tích sau cùng từ tay
đức cha De Bourges, ngày 29.6.1687, thọ 77 tuổi. (Xem :
«Tonkin. Doc.I», trang 306-308).
[26] Cha
Domenico Fuciti, thừa sai ḍng Tên, người Ư, đến
Đàng Ngoài năm 1669. Bị Toà thánh triệu hồi, ngài rời
Đàng Ngoài năm 1684 để trở lại Âu Châu. Qua
đời tại Macao ngày 19.10.1696. Kho Thư Văn của
Hội Thừa Sai Paris c̣n giữ một bản sao lá
thư bằng quốc ngữ của ngài viết tại
Roma ngày 15.11.1688 : AMEP. 681, 76-79
[27] Đăng
trong : «
[28] Vào năm
1691, vua là
[29] Bản
tường thuật không cho biết tên hai bà sau.