chương bảy

 

Mến Thánh Giá cuối thế kỷ 17

tại Đàng Ngoài

 

 

Địa phận Đàng Ngoài, từ những năm 1679, đă được chia ra làm hai địa phận : địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) do đức cha De Bourges (hiệu toà Auren) cai quản, và địa phận Đông Đàng Ngoài (Hải Pḥng) do đức cha Deydier (hiệu toà Ascalon) chăm sóc. Sau ngày đức cha Deydier mất đi v́ bệnh suyễn (1.7.1693), địa phận Đông Đàng Ngoài được trao phó cho các thừa sai ḍng Đa Minh trông coi.[1]

Dưới quyền các giám mục và bên cạnh một vài thừa sai Tây phương, các linh mục và các thày giảng Việt Nam đă tạo nên một mạng lưới tông đồ tích cực cho Giáo Hội tại Đàng Ngoài trong việc sống c̣n và phát triển. Song song đó, ḍng nữ Mến Thánh Giá vẫn lặng lẽ đâm rễ sâu trong ḷng một cộng đồng tín hữu không ngừng bị vua quan bóc lột, bắt bớ và hăm hại.

Một vài mẫu chuyện góp nhặt được tŕnh bày sau đây sẽ dệt nên như một tấm thảm, cho chúng ta được cái nh́n tổng quát về sự phát triển của ḍng Mến Thánh Giá tại Đàng Ngoài như thế nào.

 

&

 

1681 : Hỏi cưới người nhà ḍng[2]

 

Câu chuyện sau nằm trong bản tường tŕnh sứ vụ rao giảng tại Đàng Ngoài năm 1681, (12.1680 - 12.1681). Chuyện kể rằng :

«Trong làng gọi là Trân Linh, một bổn đạo tên là Gio-a-kim đă có ư cưới cho một trong các cậu con trai ḿnh một thiếu nữ đă vào nhà các chị em Mến Thánh Giá v́ ước ao dâng ḿnh cho Chúa. Cha mẹ đôi bên trai và gái đă quyết định đám cưới này trái với ư muốn của người con gái. Họ làm áp lực cô ta bằng những lời ngọt ngào và dọa dẫm bắt nàng phải rời nhà ḍng mà nhận lấy phần mà họ đă định cho nàng. Người con gái vẫn giữ ḷng cương quyết và làm ngơ làm điếc trước những ǵ cha mẹ nàng có thể nói được. Cha của người con trai v́ cho là người con gái này cứng đầu từ chối con trai của ông, nên nổi giận đích thân đến nhà các chị em Mến Thánh Giá. Ông xử thẳng với bà bề trên mà ông nghĩ là do bà mà người con gái ấy chẳng muốn lập gia đ́nh. Ông chửi bới bà bề trên cũng như toàn thể cộng đoàn mà thốt ra miệng lưỡi tất cả những ǵ sôi sục trong ḷng ông ta.

V́ cơn ngược ngạo và những vu khống của ḿnh, ông chẳng được yên lâu dài mà không bị trừng phạt. Ba ngày sau đó, ông ta trở thành mù loà và nh́n nhận rằng đó là một h́nh phạt rất đúng v́ những thái độ của ông. Ông xin dẫn đến nhà các chị em Mến Thánh Giá, khiêm tốn xin lỗi bà bề trên và tất cả các d́[3] v́ những lời chửi bới và cáo gian mà ông đă thốt ra chống lại các chị em, cùng van nài các chị em khẩn nguyện với Chúa tha thứ cho ông. Ông tuyên bố rằng sẽ không bao giờ c̣n kháng cự lại ư định của những kẻ ao ước dâng ḿnh cho Thiên Chúa nữa.

Sự trừng phạt trên đă làm gương cho những kẻ có đạo khác».

 

&

 

1682 : Nhà ḍng Kiên lao[4]

 

«Ngày 19 tháng Giêng, đức Đại diện tông toà[5] thăm viếng cộng đoàn các D́ Mến Thánh Giá (tại Kiên Lao). Ngài dẫn theo ngài các thày chủng sinh và hai ông trùm chánh của xứ đạo này. Ngài cho họp lại trong nhà nguyện của các chị em, nằm ngay lối vào nhà ḍng; và sau kinh chiều, ngài xem xét tất cả các chị em, người này đến người nọ, lắng nghe các khó khăn họ đưa ra. Ngài ghi chú ngay tại chỗ những sự đáng được chuẩn xét hầu luật lệ (nhà ḍng) được tuân giữ chu đáo hơn.

Sau chuyện trên, ngài giải tội cho tất cả chị em và khuyến khích họ chớ hề sao nhăng một việc đạo đức nhỏ mọn nào, cho dù thời kỳ thật khó khăn v́ nạn đói lớn trong toàn vương quốc. Ngài c̣n đặt lên một «chị đốc đạo»[6]. Chị này, ngoài chị bề trên và chị phụ tá bề trên ra, sẽ phải lo lên tiếng cảnh tỉnh về việc giữ luật nhà mỗi khi chị ấy thấy là các chị em lơ là mà lo đi kiếm những sự cần thiết cho đời sống[7].

Ngài dâng Thánh lễ cho các chị em. Và v́ gặp trúng bài Phúc Âm người đàn bà xứ Cananêa, ngài giảng một bài khích lệ về phương cách cầu nguyện, trong khi đó các thiếu nữ đáng thương cứ khóc lóc cả như mưa. Sau ấy, ngài cho các chị em rước lễ.[8]

Lúc lui chân, ngài gửi cho các chị em phần của dâng cúng mà các bổn đạo đă thực hiện trong thời gian ngài ở giáo xứ nói trên, để nâng đỡ các chị em trong sự cần thiết của họ. Ngài c̣n xin các bổn đạo hăy giúp đỡ các chị em, điều mà chẳng những họ làm cho sự ăn uống của các chị em, mà c̣n dựng lại nhà cho các chị em nữa, là điều thực cần thiết».

 

&

 

1682-1683 : Đức cha Deydier

 

Sau khi thừa sai De Bourges sang Xiêm La (1.1682) để được tấn phong giám mục, thừa sai Deydier đi thăm viếng các họ đạo và ghé lại yên ủi các chị em Mến Thánh Giá tại làng Van-no[9]. Năm sau, vào tháng Giêng 1683, thừa sai Deydier được thụ phong giám mục qua một thánh lễ do đức cha De Bourges cử hành trong ngôi nhà riêng của các ngài tại Phố Hiến. Đức cha De Bourges viết thư cho cha Fermanel ở Paris báo tin rằng : «Phải chấm dứt (lá thư) mà nói với cha một lời sẽ làm cha ngạc nhiên, rằng lễ tấn phong người bạn thân yêu và là người đồng nghiệp bất khả phân ly của chúng tôi, Đức cha Ascalon, đă diễn ra trong nhà bếp của chúng tôi. Đă có bao giờ cha nghe nói một nghi lễ như vậy lại được cử hành trong một nơi như thế chăng ? Tuy nhiên, cái nghiệt ngă mà chúng tôi đang gặp trong xứ này đă thu hẹp chúng tôi vào đấy...»[10]

 

&

 

1684 : Xứ Kiên Lao và xứ Kẻ Riên

 

Xứ Nghệ An là xứ nhiều bổn đạo, làng Kiên Lao là nơi được các giám mục chọn để dựng tiểu chủng viện vào năm 1683. Hai thừa sai Sarrante và Delavigne[11] lo việc dạy dỗ các học tṛ. Nhà Mến Thánh Giá Kiên Lao quy tụ tới 16 chị em mà trong kỳ bắt đạo năm 1684, «bà Mẹ đă khôn ngoan cho tất cả chị em phân tán đi trước vào những nơi an toàn và bầy biện nhà ḍng chẳng có chi đặc biệt hơn là một căn nhà riêng của bà».[12]

 

Trong khi đó ở xứ Kẻ Riên, nhà thờ th́ do ông lang y tên thánh là Phaolô xây dựng dâng cúng cho bổn đạo.

Đă từ 10 đến 12 năm nay, vợ chồng ông sống trong đức khiết tịnh : «Vợ ông làm nhà riêng mà nuôi dạy một vài thiếu nữ theo các nghĩa vụ của chị em Mến Thánh Giá». Trong cơn bách đạo, tên chỉ điểm t́m đến nhà các thiếu nữ đồng trinh này, nhưng các cô đă trốn đi từ trước rồi. Chỉ c̣n xót lại hai quyển sách đạo mà các cô làm rơi trong lúc vội vàng. Ông lang Phaolô bị bắt v́ người ta tưởng ông là linh mục, nhưng sau rồi cũng được tha về.[13]

 

&

 

1683-1684 : Can đảm đi tu[14]

 

«Đức Giám quản Đại diện tông toà gặp một thiếu nữ tuổi 22. Ḷng trung kiên giữ đạo và giữ đức khiết tịnh của nàng đáng ca ngợi quá đến không thể để nàng vào sự im lặng được.

Cô gái này gốc người xứ Đông (tức Hải Dương), thuộc làng Kẻ Giao. Cha và mẹ và cả họ hàng nàng vẫn c̣n ngoại đạo. Làm bạn với vài thiếu nữ Công giáo và học được mấy lời kinh cầu nguyện, nàng xin được thụ giáo nhân một ngày cha xứ là người quản nhiệm tỉnh này đi ngang qua chỗ đó; nàng đă tỏ ra nhiều dấu muốn giữ đạo Công giáo nên nàng được rửa tội và được gọi là Anna.

Cha và mẹ nàng lấy cho nàng một ông chồng ngoại đạo mà họ đem về tại nhà họ. Họ thường bảo với con gái của họ rằng họ sẽ cho phép nàng giữ đạo Công giáo nếu nàng thuận tỏ ḷng âu yến người con trai ấy; nhưng Anna luôn luôn trả lời rằng nàng không muốn nhượng theo ư ấy của cha mẹ nàng.

Một bữa nọ, cha nàng đă mệt mỏi trong những đường dịu ngọt, bèn trói hai tay nàng vào một cây cột nhà ḿnh và đánh nàng cả hai chục cây gậy trên lưng. Ông ta hẳn sẽ đánh nàng chết mất nếu chẳng có các người hàng xóm chạy đến mà giật lấy cây gậy trong tay ông. Cô gái đáng thương chỉ chịu 5 hoặc 6 gậy đầu tiên. Sau đó, nàng bị bất tỉnh nhân sự và có lẽ chẳng thể nào tỉnh dậy được nếu như không được một chị em họ hàng chăm sóc mà cho nhiều thuốc thang cùng lo chạy chữa các vết thương của nàng, mặc ư của cha nàng là muốn người ta để kệ cho nàng chết đi. Người ta phải khó nhọc lắm mới cản được ông ta đừng đánh gẫy chân nàng để nàng khỏi đi với chúng bạn Công giáo t́m các cha bên đạo mà dự các nghi lễ.

Một vài tháng sau, Anna b́nh phục; cha nàng ngày kia có sự khó ở khác : thấy con gái ḿnh chẳng tỏ ḷng yêu thương đứa con trai, ông quyết tâm phải làm cho nàng nhận chuyện cưới gả hay đánh cho nàng đến chết. Ông cầm trong tay một cái chầy và bắt đầu đánh đập nàng rất tàn bạo. Đến cái thứ tư, nàng bị ngă ngửa ra. Thấy tính khí cha ḿnh sẽ khiến ông đi đến cùng lời ông đă nói mà đánh nàng cho đến chết, nàng bèn nói ra là nàng sẽ làm như cha nàng muốn, cho dù nàng chẳng nghĩ tới chuyện ǵ, lại càng không nghĩ đến chuyện cưới người ngoại đạo đó. Nàng chỉ nghĩ một điều là làm tất cả những ǵ cha nàng muốn mà không trái với điều nàng tin là Thiên Chúa đ̣i hỏi nơi nàng. Bởi v́ lúc đó nàng quyết định trốn khỏi nhà cha mẹ nàng. Quả vậy, nàng chẳng chờ chữa chạy cho ḿnh khỏi hoàn toàn : không thể trốn đi vào ban ngày bởi cha mẹ nàng thường xuyên canh chừng, nàng trốn đi vào ban đêm. Người ta đuổi theo sau nhưng không bắt lại được nàng, v́ nàng bơi qua một nhánh sông rất lớn, điều mà cha mẹ nàng không thể nào tưởng tượng được.

Nàng đi t́m đến những người có đạo quen biết; họ dẫn nàng sang xứ Nam (tức Nam Định). Đức Đại diện tông toà, sau khi đă xem xét nàng và đă thấy nhiều dấu tốt đẹp về ơn gọi của nàng, giao nàng cho bà bề trên một Nhà Mến Thánh Giá. Và hiện tại, lúc chúng tôi viết sự này, th́ đă được 20 tháng rồi, người con gái tốt lành đó vẫn trung kiên, giữ các nghĩa vụ như những chị em Mến Thánh Giá».

 

&

 

1683-1684 : Sống như nữ tu

 

Vào quăng năm 1683-1684, thừa sai Sarrante[15] được sai đi Nghệ An.

«Trong thời gian ngắn ngủi thừa sai Sarrante ở tại tỉnh này, ngài chỉ thăm viếng được ba nhà thờ Kẻ Hương Khê, Bút Cang và Kẻ Trầu.

Ngài đă viết rằng trong xứ Kẻ Hương Khê, ngài gặp được 9 hay 10 phụ nữ và thiếu nữ không giống như các bổn đạo. Thực vậy, mặc dầu chị em không sống thành cộng đoàn và dưới cùng một mái nhà, như các chị em Mến Thánh Giá, nhưng họ thường hay hội họp nhau lại hơn tất cả những bổn đạo khác để làm việc đạo đức; và mặc dầu họ bận bịu công việc buôn bán mọi thứ hàng hoá khác nhau, nhưng h́nh như họ chỉ lao nhọc để làm việc bác ái nhờ lợi nhuận trong việc buôn bán.

Và tại Kẻ Trầu, ngài xác nhận là có gặp độ ba chục người và nhiều người c̣n hơn cả lời bên Pháp người ta thường gọi là những kẻ tận tâm tận t́nh nữa».[16]

 

&

 

1685 : Gia đ́nh linh mục Philiphê Trà[17]

 

Câu chuyện sau là chuyện gia đ́nh của một linh mục Việt Nam thế hệ đầu tiên : cha Philiphê Văn Trà (1639-1685). Lúc thừa sai François Deydier đến Đàng Ngoài năm 1666, ngài c̣n là một thày giảng «trẻ». Ngài giỏi Hán văn và học chữ quốc ngữ rất mau, (v́ phải học chữ quốc ngữ để c̣n đọc được tiếng la tinh mà làm lễ). Năm 1677, lúc 38 tuổi, ngài được thừa sai Deydier gửi sang Xiêm La để chịu chức linh mục từ tay đức cha Lambert de la Motte. Cùng năm đó, sau khi trở thành linh mục, ngài trở về phục vụ Giáo Hội Đàng Ngoài cho đến khi qua đời ở Hà Nội ngày 14.6.1685, sau khi chịu các bí tích cuối cùng do đức cha De Bourges ban.

«... Lúc người linh mục tốt lành ấy được nâng lên chức vụ thày giảng, ngài đă bắt đầu ngay trong chính gia đ́nh ḿnh. Ngài khuyên nhủ em trai và chị gái của ngài khéo léo đến độ cả hai khi đến tuổi lập gia đ́nh đă bỏ đời này mà dâng ḿnh cho Chúa.[18]

Em trai của ngài tên là Timôthêô đă dâng cúng cái sản nghiệp nhỏ bé của ḿnh dùng để sống cho ba cộng đoàn Mến Thánh Giá được hưởng chung và tự nguyện phó ḿnh trong tay các Đức Đại diện tông toà. Hiện nay, anh vẫn là một trong những đầy tớ trung thành và nhiệt tâm nhất của các ngài.

Chị của ngài, gọi là Têrêsa, đă vào một trong những cộng đoàn các Thiếu nữ Thánh giá[19]. Và cho dù sức khỏe chị c̣n mỏng manh, trong ṿng 2 hay 3 năm sau nàng đă được chọn là «chị đốc đạo» của cộng đoàn. Sau cùng, đă ba năm nay chị là bề trên một trong các nhà này và hướng dẫn khôn ngoan 10 hay 12 chị em dưới quyền. Người ta có thể ca tụng rằng gia đ́nh của chị (tức nhà ḍng) là nhà khéo tổ chức hơn tất cả, bởi chưng với những bệnh tật của ḿnh, chị có thể được miễn khỏi phần lớn những nghĩa vụ nhọc nhằn, nhưng chính chị lại làm gương cho các chị em về ḷng khiêm nhượng và sự hăm ḿnh, (luôn) là người đầu tiên đưa tay vào việc. Vị Đại diện tông toà viết sự này nh́n nhận rằng ngài đầy xấu hổ khi thấy người phụ nữ ấy dự cái chết của người anh yêu dấu ḿnh và chịu lấy với ḷng cứng rắn hơn chính ngài».[20]

&

 

1686-1687 : Mẹ bề trên Paola[21]

 

«Cha Félix Tắn[22] đi thăm một vài nhà thờ nằm phía dưới phố Hiến ba hay bốn dặm đàng. Ngài đến một làng tên là Kẻ Bôn. Ngài ở nhà một trong các chức sắc làng là người có đạo; ngài tụ tập bổn đạo tại đó để giải tội và dâng thánh lễ trong đêm hôm ấy...

Khi cha Félix vừa làm xong lễ th́ người ta đến đưa tin (bắt đạo) cho ngài hay. Trước hết, ngài thu dọn đồ lễ và cho chuyển từng ít một ra khỏi làng, cùng trao phó cho một bà thuộc giới triều đ́nh, tên là bà Paola... Bà hứa với cha Félix sẽ lo lắng cẩn thận. Bà khuyên cha v́ sự an toàn cho ḿnh, hăy trốn sang một làng khác...[23]

Bà Paola, thấy cha Félix ra đi rồi, liền xuống một chiếc thuyền lớn với Mẹ Paola là bà bề trên chính của các nữ tu Mến Thánh Giá. Từ mấy hôm trước, bà bề trên đă tới làng này để mua gạo dự trữ cho gia đ́nh ḿnh và mấy người khác cùng theo bà. Ngay khi bà xuống thuyền và với tư cách chủ nhân, bà muốn hỏi xem sự thay đổi mà bà trông thấy ở trên thuyền, th́ ông hương trưởng đă chồm lấy bà, túm tóc bà, đối xử với bà một cách bất xứng và gọi bà là vợ tên đầu xỏ bọn cướp bóc này. Sự thể như vậy cho dù tên đáng thương ấy đă khám xét cả thuyền và chẳng gặp một thứ hàng hóa nào, chỉ thấy độ 8.000 hay 10.000 đồng tiền, gạo đủ ăn cho quăng mười lăm ngày và nhiều đồ đạc thuộc về trong đạo công giáo...»

Sau đó, bà Paola và Mẹ Paola liền bị bắt trói và bị giải đi lên quan. Ba chiếc thuyền - hai của cha Félix và một của Mẹ Paola - bị tịch thu. Số người bị bắt giữ hôm đó là 15 người.

Theo xét xử của quan, bà Paola và Mẹ Paola sẽ phải chịu mỗi người là 30 ngọn đ̣n :

«Thiên Chúa lúc đó ban cho bà (Paola) và cho Mẹ Paola một ḷng ao ước nồng nhiệt và một ḷng kiên nhẫn thánh thiện ḥng chịu đau khổ chút nào đó cho t́nh yêu của Ngài». Mọi người bị dẫn ra chợ Phố Hiến đông người :

«Bà Paola và Mẹ Paola là những người đầu tiên bị đánh đ̣n, vẫn giữ nguyên y phục thường mặc theo như phong tục. Người ta đánh có hơi nhẹ tay một chút, hoặc v́ lưu ư họ là phái nữ, hoặc v́ bà Paola là người rất bề thế mà không phải là không nguyên cớ, v́ bà là ḍng dơi gia đ́nh xưa của các vua. Và (c̣n v́) Mẹ Paola rất đáng kính với mái tóc đă bạc trắng...».

Trước đám quan quân đang cười nhạo đạo Chúa Giêsu, «Mẹ Paola dù bị quỳ gối trước bọn chúng, đă nghiêm trang nói với chúng :

«Xin các ông chớ có cười nhạo những mầu nhiệm này mà các ông không biết ǵ, sợ rằng một ngày nào đó những tiếng cười cợt của các ông sẽ hoá thành những tiếng than khóc vô tận. Hăy nhớ rằng linh hồn các ông khi ra khỏi xác sẽ đầy tràn sự sợ hăi khiếp đảm hơn tôi trước các ông đây, tại toà phán xét kinh khủng của Chúa Giêsu Kitô mà giờ đây các ông đang chế nhạo. Bởi thế, các ông chớ có chế nhạo, v́ chắc chắn các ông sẽ ăn năn hối hận một ngày nào đó, nhưng có thể sẽ thực vô ích cho nỗi bất hạnh của các ông».

Các quan xét khảo dọa nạt bà... Bà phải cúi sát đất và đưa hai vai cho chúng mà hứng chịu những ngọn đ̣n. Bà nói :

«Các ông thực có thể làm cho tôi chết được v́ những đ̣n vọt, và chẳng cần nhiều chi để tôi kết thúc một chút ngày c̣n lại trong đời tôi, nhưng các ông sẽ chẳng sao ngăn cản được tôi đứng vững vàng trong chân lư».

Bản tường tŕnh cuộc bách hại kể tiếp rằng : «Các Đại diện tông toà (hai đức cha Deydier và De Bourges) hay được mọi sự xảy ra tại Phố Hiến nhờ cha Bélot[24] đă mau mắn viết thư cho các ngài. Các ngài nghĩ rằng các việc tôn giáo đang gặp gian nan lớn và bản thân các ngài gặp nguy hiểm nên sau khi cho cất giấu vào nơi kín đáo mọi sách lễ và phẩm phục của ḿnh liền rời ngôi nhà ông Raphael de Rhodes là nơi các ngài thường cư trú mỗi khi đến kinh đô. Các ngài e ngại sẽ gây phiền hà cho ông già tốt lành ấy và bà vợ của ông nay đă 76 tuổi và họ chẳng có đứa con nào[25]. Các ngài rút đi bằng thuyền với duy nhất một quyển sách nguyện, một ḿnh buồn khổ v́ tai ương có vẻ sẽ đổ xuống trên đầu các ngài.

Nhưng Thiên Chúa nhân lành đă xót thương đến cái Giáo Hội tội nghiệp này nên Ngài khiến quan trấn phải bận nhiều chuyện khác hơn...».

 

&

 

1686-1687 : Mẹ Têrêsa và Mẹ Phanxica

 

Antôn Trịnh Tài xưa vốn là thày giảng của cha ḍng Tên Fuciti[26], nhưng sau bị ngài đuổi ra khỏi hàng thày giảng v́ kém đức hạnh. Hắn bỏ Giáo Hội và đi làm chỉ điểm cho quan quyền bách đạo.

«Một bữa kia, hắn vào nhà các chị em Mến Thánh Giá làng Trà Lũ. Mẹ bề trên Têrêsa đối xử lịch thiệp với hắn, mời hắn trầu cau là thứ xử dụng ở Đàng Ngoài như dấu tôn trọng và kính mến. Nhưng một trong các vị chức sắc của làng đă nh́n thấy hắn vào trong nhà đó, cho dù ông là người ngoại đạo song v́ kính nể Mẹ Têrêsa và các thiếu nữ tốt lành của bà, nên đă theo chân hắn và hỏi hắn có chuyện ǵ phải làm trong nhà các bà. Hắn đáng bị lột hết quần áo và bị đưa ra khỏi làng. Hắn muốn bào chữa, nhưng ông ngoại đạo bảo hắn : «Nếu anh có quyền hành của quan tỉnh th́ anh hăy cho xem để chúng tôi c̣n tỏ ḷng kính trọng và vâng phục đối với quan như chúng tôi phải giữ; nhưng nếu anh chẳng có th́ anh đáng bị chúng tôi đập đ̣n cho nhừ tử và quẳng xuống sông». Chuyện ấy buộc hắn phải rời khỏi không những nhà các thiếu nữ tốt lành mà ngay cả khỏi làng nữa. Hắn ra đi mà cương quyết sẽ đến xin quan những quyền hành cần có để bắt giữ những kẻ có đạo».

Sau đó, cũng v́ sự chỉ dẫn của Antôn Trịnh Tài mà quan cho 15 lính đến xứ Trôn Linh [Trung Linh] mà thu lấy nhiều đồ dùng của các cha cùng các đồ thờ phượng. «Tiếp đó, chúng vào một nhà các nữ tu Mến Thánh Giá mà chúng chỉ gặp bà bề trên Phanxica với một phụ nữ lớn tuổi khác, bởi v́ bà bề trên đă cho các chị em di tản ngay khi bà vừa nghe tin đồn có lính tráng đến».[27]

 

&

 

1691 : Khi vua nổi giận

 

«Vào cuối tháng tám năm 1691, hoàng đế xứ Đàng Ngoài[28] quyết định cưỡng bức tất cả các phụ nữ có đạo trong hoàng cung của ông phải chối bỏ đạo. Để đạt tới cùng một ư đồ rất đỗi độc dữ, ông nhắn tới trước tiên người đàn bà mà ông yêu thương hơn hết (là em gái của hoàng hậu, vợ thứ nhất của ông), tên gọi là Bà Catarina; thấy bà rất kiên vững trong đức tin của bà, ông liền đuổi bà xa khỏi ông. Nhưng để dọa nạt bà mạnh hơn nữa, ông trù tâm bách hại ba bà khác một cách tàn nhẫn hơn, ba bà này không được ông sủng ái nhiều (như Bà Catarina).

Bà thứ nhất tên là Nympha....[29]

Cả ba cô gái này quá sợ hăi lời đe dọa của vua nên ngay từ sáng sớm đă bỏ hoàng cung ra đi. Các bà đến gặp đức cha Auren (tức đức cha De Bourges), xin ngài t́m cho các bà một chỗ náu thân. Đức cha khá hiểu là ngài sẽ rơi vào mối nguy hiểm nào nếu ngài nhận lời van xin của các bà; nhưng phải cứng ḷng lắm th́ mới bỏ rơi những phụ nữ có đạo trong hoàn cảnh cùng cực mà họ đang phải chịu một cách rất hiên ngang này. (Bởi đó), ban đầu ngài cho dẫn họ vào nhà một bà có đạo trong kinh đô, rồi sau th́ vào trong ba nhà khác nhau của các nữ tu Mến Thánh Giá.

Cùng ngày hôm đó, hoàng đế cho người đi t́m các bà trong nhà của đức cha Auren nhiều lần và cho sai nói rằng ông đối xử như vậy với các bà chỉ là để đùa chơi giải trí và rằng các bà có thể quay trở lại hoàng cung mà không phải sợ người ta làm hại chi đến các bà...»[30]

Chúng ta không rơ sau này ba phụ nữ nói trên có trở lại hoàng cung chăng, chỉ biết rằng cơn nóng nẩy của nhà vua đă kéo dài khoảng 15 ngày, rồi thôi.

 

./.

 

<<<<< về trang đầu tiên <<<<<

 



[1] Thực t́nh mà nói, sự phân chia trên chỉ trên mặt giấy tờ; c̣n trong thực tế, phải sang thế kỷ thứ 18 sau đó sự phân chia trên mới thành hiện thực trong việc mục vụ và rao giảng Phúc âm.

[2] Tài liệu viết tay : AMEP. 679, 275. Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 349.

[3] «Soeurs = d́».

[4] Bản tường tŕnh năm 1682-1683). Tài liệu viết tay : AMEP. 657, 22. Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 350.

[5] Đức cha Deydier. Vào lúc này, ngài đă được phong Giám mục Ascalon và nhận chức vụ Đại diện tông toà, nhưng chưa chịu chức Giám mục. Lễ tấn phong chỉ được cử hành vào đầu năm sau : 1683.

[6] Nguyên văn «la zélatrice» mà nghĩa là «kẻ làm sự ǵ với tất cả ḷng đạo đức sốt sắng». Chúng tôi tạm dịch là «chị đốc đạo», theo nghĩa người khuyến khích kẻ khác lo việc đạo đức.

[7] V́ đời sống rất nghèo của các nữ tu, việc làm ăn sinh sống có thể khiến các chị em sao nhăng việc đạo đức trong ḍng.

[8] Đức cha Deydier rất thông thạo tiếng Việt. Cùng với đức cha De Bourges, ngài đă soạn thảo trên 40 quyển sách đạo cho xứ Đàng Ngoài bằng tiếng nôm. Hy vọng một ngày nào đó sẽ có tác giả t́m hiểu kỹ hơn về chuyện này. (Xem : «Tonkin. Doc.I», trang 296-297).

[9] Xem «Tonkin. Doc.I», trang 286. (Ở đây có lẽ là Làng Vạn). (Nói chung, những tên làng xóm Việt Nam, thật không dễ mà xác định được khi đọc những tài liệu do các thừa sai Âu Châu viết lại. Chúng tôi cố gắng minh xác theo sự hiểu biết riêng, đặc biệt căn cứ theo một bản viết tay tiếng Việt, tựa đề «Sổ các thày cả... Các nhà mụ xứ nam, năm 1800» : AMEP. 692, 921-923).

[10] Tài liệu viết tay : AMEP. 680, 16. Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 228.

[11] Thừa sai Delavigne (Gabriel) sinh năm 1657 tại Pháp. Theo đức cha De Bourges vào Đàng Ngoài tháng 8.1682. Công việc chính của ngài tại Đàng Ngoài là dạy dỗ các chủng sinh tại Kiên Lao và Kẻ Cọc. Sau đó ngài sang Pondichéry (Ấn Độ) , rồi về Pháp năm 1697. Năm 1706 ngài trở thành giám đốc Chủng viện Hội Thừa Sai tại Paris và qua đời tại đây năm 1710. (Một lá thư bằng quốc ngữ của ngài viết năm 1699 được lưu giữ ở : AMEP. 881, 791-793).

[12] Tài liệu viết tay : AMEP. 657, 82. Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 320.

[13] Xem :»Tonkin. Doc.I», trang 320.

[14] (Bản tường tŕnh năm 1683-1684). Tài liệu viết tay : AMEP. 657, 64. Đăng trong :»Tonkin. Doc.I», trang 350.

[15] Thừa sai Sarrante (Jean-Louis) đến Đàng Ngoài năm 1682. Qua đời tại Hà Nội năm 1687, an táng tại Bùi Chu.

[16] Tài liệu viết tay : AMEP. 657, 100. Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 289.

[17] (Bản tường tŕnh năm 1684-1685). Tài liệu viết tay : AMEP. 680, 261. Đăng trong :»Tonkin. Doc.I», trang 386.

[18] Trong bản văn Pháp ngữ này, chỉ viết «sa soeur» (mà tiếng Việt có thể dịch là «chị» hay là «em») ; nhưng dựa trên các tài liệu khác, chúng tôi hiểu là «chị», chứ không phải là «em gái» của ngài, cha Philiphê Trà, người làng Trà Lũ.

[19] «Thiếu nữ Thánh giá» = «Filles de la Croix». Chúng tôi dịch như vậy v́ tôn trọng từ ngữ mà thôi; c̣n về ư nghĩa th́ chẳng ǵ khác hơn là «các chị em Mến Thánh Giá».

[20] Tức đức cha De Bourges, Đại diện tông toà đă cho cha Philiphê chịu các bí tích sau cùng.

[21] Tài liệu viết tay : AMEP. 680, 420; 670, 51. Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 326-332.

[22] Ngài tên là Félix Văn Tắn, nhưng sau sẽ đổi thành Văn Miện. Chịu những chức nhỏ từ tay đức cha Lambert de la Motte vào tháng Giêng năm 1670. Đức cha De Bourges cho ngài chịu chức linh mục vào năm 1683 tại kinh đô Hà Nội và sai đi phục vụ trong địa phận Đông Đàng Ngoài. Sau về già, ngài được đưa về địa phận Tây Đàng Ngoài và qua đời ngày 2.7.1704.

[23] Trong bài tường thuật cuộc bách đạo này, có hai nhân vật mang cùng một tên là «Paola» : một người là «bà Paola», quả phụ giầu có và nhiều quen biết, một người là «Mẹ Paola», bề trên các chị em Mến Thánh Giá.

[24] Thừa sai Edme Belot (1651-1717) đến Đàng Ngoài năm 1680. Tên Việt Nam của ngài là «Lót» (đôi khi người ta gọi là «Tài Lót»). Được Toà thánh phong giám mục, hiệu toà Basilée, giám mục phụ tá với quyền kế vị cho đức cha De Bourges.

[25] Raphael de Rhodes là cậu bé xứ Đàng Trong xưa đă dạy cha Alexandre de Rhodes học tiếng Việt (Xem : A. de Rhodes : «Divers voyages et missions...», sách đă dẫn, trang 73-74). Sau khi đi rao giảng Phúc Âm ở Lào trở về, ông định cư tại Hà Nội, lập gia đ́nh với bà Pia, nhưng không có con. Cả hai ông bà đă giúp rất nhiều cho Giáo Hội tại Đàng Ngoài. Ông đă soạn thành thơ chuyện Tổ phụ Giuse (bên Ai Cập) và chuyện ông Tobia (tiếc rằng chưa có ai t́m lại được hai tập sách có lẽ bằng Hán tự này). Ông qua đời tại Hà Nội, sau khi nhận các bí tích sau cùng từ tay đức cha De Bourges, ngày 29.6.1687, thọ 77 tuổi. (Xem : «Tonkin. Doc.I», trang 306-308).

[26] Cha Domenico Fuciti, thừa sai ḍng Tên, người Ư, đến Đàng Ngoài năm 1669. Bị Toà thánh triệu hồi, ngài rời Đàng Ngoài năm 1684 để trở lại Âu Châu. Qua đời tại Macao ngày 19.10.1696. Kho Thư Văn của Hội Thừa Sai Paris c̣n giữ một bản sao lá thư bằng quốc ngữ của ngài viết tại Roma ngày 15.11.1688 : AMEP. 681, 76-79

[27] Đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 332-333.

[28] Vào năm 1691, vua là Lê Hy Tông, niên hiệu lúc đó là Chính Hoà. Vua qua đời lúc 53 tuổi.

[29] Bản tường thuật không cho biết tên hai bà sau.

[30] Tài liệu viết tay : AMEP. 665, 203. Đăng trong :»Tonkin. Doc.I», trang 340-341.

 

./.

 

<<<<< về trang đầu tiên <<<<<