chương tổng kết

 

Mến Thánh Giá và xă hội Việt Nam

 

 

Tháng 5 năm Ất Tỵ (1545) Nguyễn Kim trúng độc dược của Dương Chấp Nhất thuộc Bắc Triều của nhà Mạc. Nguyễn Kim qua đời, mọi quyền bính tại Nam Triều của vua Lê rơi vào tay Trịnh Kiểm, con rể Nguyễn Kim. Thế cảnh vua Lê chúa Trịnh khởi đầu từ ngày ấy.

Trịnh Kiểm lại muốn đi xa hơn, cho người hăm hại con trưởng nhà Nguyễn là Nguyễn Uông. Con thứ hai của nhà Nguyễn là Nguyễn Hoàng hoảng sợ cáo bệnh nằm nhà, lén lút cho người đi Hải Dương thỉnh ư Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng gợi ư : «Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân». Nguyễn Hoàng hiểu ra việc phải làm, ngỏ lời cậy nhờ chị là Ngọc Bảo, vợ nhất Trịnh Kiểm.

Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng được chính thức sai đi trấn thủ xứ Thuận Hoá. Nền chính trị quốc gia «Trịnh-Nguyễn» bắt đầu manh nha từ đó. Giang sơn Đại Việt của triều đ́nh nhà Lê càng ngày càng bị xâu xé giữa hai ḍng họ lớn : họ Trịnh ngoài Bắc và họ Nguyễn trong Nam.

Mối bận tâm hàng đầu của cả hai bên là bảo vệ nền tự chủ của ḿnh, không ai muốn thua ai. Nhưng cả hai đều vẫn tiếp tục coi Trung Quốc là gương mẫu sự phát triển quốc gia. Và do hoàn cảnh địa lư cụ thể, chúa Trịnh lo thanh toán tàn dư nhà Mạc và bảo vệ biên thuỳ phía Bắc, trong khi chúa Nguyễn lo đem dân vừa làm lính thú vừa làm nông phu mà lấn dần bờ cơi về phía Nam.

Về chính trị nội địa và đối ngoại th́ như thế. C̣n về văn hoá và hành chánh th́ Nho học vẫn độc tôn trong lănh địa. Tuy nhiên, v́ nền chính trị không ổn định, nền giáo dục quốc gia theo truyền thống Khổng Mạnh xuống dốc một cách tồi tệ. Việc thi cử tạo người tài đức ra gánh vác việc nước không c̣n được nghiêm chỉnh như xưa nữa. Vào thế kỷ 17, tại miền Bắc, các khoa thi c̣n được triều đ́nh tổ chức khá đều đặn, trong khi ở miền Nam, việc học hành xem ra lỏng lẻo hơn nhiều. Sang thế kỷ 18, lệ «tiền thông kinh» xuất hiện : mua bằng mua tước đă là chuyện xảy ra một cách chính thức, làm hổ mặt truyền thống hiếu học trong lịch sử giới trí thức Việt Nam.

Bên cạnh đó, c̣n có những nhà Nho học không gặp vận đă trở thành thày đồ, thày lang, thày địa lư, thày... quân sư chỉ đạo cho giới b́nh dân trong làng trong xóm, từ việc dựng cửa dựng nhà, đến ma chay cưới hỏi. Đương nhiên họ không thể nào thoát khỏi trào lưu chung mà xuống dốc. Kế sinh nhai cùng với và nhờ vào đám dân nghèo thiếu ăn thiếu học có lẽ khẩn thiết và dễ dàng hơn việc tự trau dồi khả năng nghiệp vụ riêng. Phải tự trao dồi, v́ nào đă thấy trường nào dạy nghề lang y, nghề hướng dẫn cưới hỏi, ma chay, địa lư đâu. Lại thêm nữa là thuyết giáo nhà Nho có đâu mà trả lời những khúc mắc siêu h́nh muôn thuở của con người : sống là ǵ ? chết đi đâu ? Thượng Đế là ai ? kẻ lành, người ác rồi sẽ khác nhau thể nào ? Trước cái chẳng có câu trả lời chính giáo, mạnh thày nào th́ theo thày ấy, để người dân đă nghèo về vật chất lại nghèo cả về tâm linh, buông theo mê tín dị đoan.

Trong khi đó...

 

&

 

Trong khi đó, bên phương Tây, nhiều quốc gia đă phát triển mạnh về khoa học, nhất là về hàng hải và thương mại quốc tế. Khởi đầu là Bồ Đào Nha, sau đó là Tây Ban Nha, rồi Hoà Lan, Anh, Pháp...

Toà thánh Roma vào thời kỳ đầu, khi các con tầu buồm Bồ Đào Nha bắt đầu khám phá ra những phần đất xa lạ, đă ư thức ngay tới nhiệm vụ đem ánh sáng Phúc Âm đến tận cùng trái đất. Tuy nhiên, Lời Chúa th́ Toà thánh có, nhưng tầu bè th́ không. Do đó, việc rao giảng Tin Mừng và tổ chức những Giáo Hội địa phương mới đă được trao phó cho triều đ́nh công giáo Bồ Đào Nha, rồi thêm Tây Ban Nha nữa. Nhưng thế quyền và thần quyền lắm khi lẫn lộn với nhau, gây nhiều điều đáng tiếc.

Ngày 22.6.1622, Thánh bộ Truyền bá Đức tin (Propaganda Fide) được đức giáo hoàng Grêgôriô XV chính thức thành lập để lo việc rao giảng Tin Mừng trên địa cầu này.

Chính Thánh bộ Truyền bá Đức tin ấy trong những năm 1658 - 1660 đă tấn phong giám mục cho ba linh mục người Pháp và sai họ sang Đông Á với chức vị « đại diện tông toà »[1], hoàn toàn biệt lập đối với triều đ́nh Bồ Đào Nha. Một trong ba tân đại diện tông toà đó là đấng sáng lập ḍng Mến Thánh Giá tại Việt Nam : đức cha Pierre Lambert de la Motte.

Nhiệm vụ chính của những vị được Toà thánh sai đi là t́m thiết lập một hàng giáo sĩ cho các nước miền Viễn Đông Châu Á mà các thừa sai đi trước đă rao giảng Tin Mừng và dựng ra được những Giáo Hội tại các địa phương, đặc biệt là Việt Nam.

 

&

 

Về điểm này, chúng ta phải nh́n nhận là nhiệm vụ đầu tiên của đức cha Lambert de la Motte (nếu không muốn nói tới các đại diện tông toà khác) khi được sai đi, không phải là để lập ḍng nữ Mến Thánh Giá hay một «Hội ḍng tông đồ» nào khác, nhưng là để đào tạo và thiết lập một hàng giáo sĩ địa phương. Nhiệm vụ này, ngài đă không quên : ngài là người đă truyền chức linh mục đầu tiên cho những thày giảng Việt Nam, cả hai miền Bắc và Nam.

Có lẽ cũng v́ nhiệm vụ này mà ngài đă thường xuyên sống tại Xiêm La, trong Chủng viện Thánh Giuse, hơn là hiện diện trong chính địa phận ḿnh là xứ Đàng Trong. Biết rằng địa phận Xiêm La là thuộc quyền cai quản của đức cha Laneau, chứ không được trao phó cho ngài. Trong suốt 17 năm thi hành nhiệm vụ, ngài chỉ có mặt chưa tới 18 tháng trời trong địa phận riêng ḿnh. Tuy nhiên, ngài đă là người đem ơn đặc biệt của Thiên Chúa đến cho Việt Nam : ḍng Mến Thánh Giá.

 

&

 

1. Đức cha Lambert de la Motte trong lịch sử ơn «Mến Thánh Giá»

 

Ơn Thiên Chúa th́ luôn luôn lớn hơn bất kỳ một cá nhân nào.

Ơn «Mến Thánh Giá» th́ lớn hơn cả đức cha đấng sáng lập ḍng. Trong lịch sử ơn sủng «Mến Thánh Giá», ngài đă có vinh hạnh được Thiên Chúa tuyển chọn hầu khởi sự đem ơn sủng đó đến các phụ nữ công giáo Việt Nam, rồi qua đó cho Giáo Hội và cho dân tộc Việt Nam.

Trong sự sắp đặt nhiệm mầu nào đó, từ tấm bé, đức cha Lambert de la Motte đă có tâm hồn yêu mến Thánh Giá Chúa Giêsu. Chính ngài đă thổ lộ ra trên giấy trắng mực đen cái kín đáo này của đời ngài[2]. Đương nhiên, môi trường bên ngoài, xă hội cũng như Giáo Hội lúc đó, không phải là không cần thiết cho việc Thiên Chúa gieo «hạt Mến Thánh Giá» và làm cho «hạt» trổ sinh nơi con người Lambert de la Motte ấy.

«Ơn Chúa» như hạt giống, «môi trường bên ngoài» như đất tốt : hạt tốt phải có đất tốt th́ mới thành cây nên quả : Giáo Hội xứ Pháp thế kỷ 17, thức tỉnh muộn màng hằng cả một thế kỷ sau công đồng Tri-đen-ti-nô (1545-1563), đă là mảnh đất ph́ nhiêu để Thiên Chúa gieo hạt giống của ngài nơi con người Lambert de la Motte, làng La Boissière, xứ Lisieux đó.

Với chúng ta là những con người phàm tục chỉ thấy một khoảng khắc thời gian nào đó, chúng ta không thể hiểu công tŕnh của Thiên Chúa là đấng đứng trên lịch sử và thời gian. Nhưng chúng ta phải nhận thực là nếu Giáo Hội Pháp không có những bậc thày linh đạo mang chức linh mục như Pierre de Bérulle, Jean Eudes, Vincent de Paul, Jean-Jacques Olier... hay những giáo dân đạo đức như các bà Marguerite Acarie, Marie de Valence, ông Jean de Bernière..., khó mà có được một Lambert de la Motte đă chấp nhận từ bỏ tất cả để ra đi về miền đất chưa hề biết đến.[3]

Và rồi, giai đoạn đầu đó đă tiếp tục với cuộc ra đi về một miền đất thật xa xôi và xa lạ : đức cha Lambert de la Motte cùng hai thừa sai François Deydier và Jacques de Bourges đă đi ḍng dă trên 2 năm để tới được kinh đô xứ Bạch Tượng, nơi ngài lưu lại cho đến khi từ giă cơi trần này.

Hành tŕnh đó phải chăng, với muôn phần gian nan khổ sở, đă là một thao trường huấn luyện ơn gọi «Mến Thánh Giá» cho ba nhân vật ṇng cốt trong công tŕnh thành lập và phát triển ḍng nữ «Mến Thánh Giá» sau này tại Việt Nam ?[4]

Cuối cùng, giai đoạn quyết định đă đến : xứ Xiêm La, đất Phật giáo Tiểu Thừa là tôn giáo vốn đề cao sự khắc khổ và thoát tục.

Nếu các thừa sai Âu Châu ngày đó tại xứ này sống xứng với danh hiệu thừa sai, đừng giây dưa vào chuyện thương mại, đừng buôn thần bán thánh... th́ liệu đức cha Lambert de la Motte có thiết tha muốn lập một «Hội ḍng tông đồ» để tạo nên những «người thợ Phúc Âm» lư tưởng không ? Và nếu đức cha Lambert de la Motte ngày ấy, thay v́ gặp gỡ một Xiêm La với Phật giáo Tiểu Thừa khắc khổ, đă gặp một Việt Nam với Phật giáo Đại Thừa và nền văn hoá Khổng Mạnh rộng răi, nhân bản hơn... th́ liệu ngài có đ̣i hỏi một đời tông đồ nhiều hy sinh, hăm ḿnh không ?

Chắc chẳng ai có thể trả lời cho những câu hỏi khởi đầu bằng chữ «nếu» như vậy cả. Chúng ta chỉ biết rằng, dù chương tŕnh lập «Hội ḍng tông đồ» không thành, nhưng tinh thần và luật lệ mà đức cha Lambert de la Motte đă nghĩ đến sẽ đóng góp trực tiếp vào việc thành lập ḍng nữ Mến Thánh Giá tại xứ Đàng Ngoài, vào năm Canh Tuất 1670, bên bờ sông Hồng, con sông vốn từng nuôi sống biết bao thế hệ người dân Việt Nam.

Sau hết, phải nhận rằng «ơn Mến Thánh Giá» là ơn đă được thể hiện, đă được sống ở một mức độ siêu việt, trên hẳn phàm nhân đại chúng, nơi con người đức cha Lambert de la Motte : «Chúa đă cho ngài cảm nếm đến tận cùng sức nặng của Thánh Giá Chúa mà suốt đời ngài, ngài đă rất đỗi say đắm». Đức cha Laneau đă làm chứng như vậy sau ngày đấng sáng lập ḍng nữ Việt Nam đầu tiên qua đời.

Trong lịch sử ơn Cứu độ, qua Đức Maria, Con Thiên Chúa được ban cho nhân loại. Trong lịch sử «ơn Mến Thánh Giá» của Thiên Chúa, qua Đức Lambert de la Motte, «ḍng Mến Thánh Giá» được ban cho Giáo Hội và xă hội Việt Nam, và có thể c̣n xa c̣n rộng hơn thế nữa.

 

&

 

2. Những vị chủ chăn

 

Ḍng Mến Thánh Giá chỉ được thành h́nh và đứng vững ở Việt Nam thế kỷ 17 nhờ cố gắng chung của các vị chủ chăn. Về điều này, hai điểm nổi bật đáng chúng ta nêu ra trước tiên như sau.

 

Điểm đầu tiên,

mà chúng ta ghi nhận là sự hiện diện thường xuyên của các thừa sai Âu Châu, sau đó là các linh mục Việt Nam đầu tiên cùng các thày giảng, giữa cộng đồng các Kitô hữu. Đây cũng là một yếu tố mới mẻ trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam : trước khi các linh mục của Hội Thừa Sai Paris đến Việt Nam, các tu sĩ thừa sai - đặc biệt là các cha ḍng Tên - đă đến và tận tụy rao giảng Tin Mừng cùng xây dựng những giáo xứ đó đây. Các ngài c̣n lập nên cả một hệ thống các thày giảng để phụ giúp và tiếp tục công tŕnh, nhất là khi các ngài bị trục xuất. Các vị thừa sai thế hệ này thường đến một cách công khai, t́m giảng đạo ngay tại kinh đô (Hà Nội hoặc Huế), và khi bị trục xuất th́ các ngài ra đi. C̣n từ thời có những đại diện tông toà, các thừa sai bắt đầu đến Việt Nam một cách bán chính thức và khi bị trục xuất hay bị lùng bắt, phần lớn các ngài t́m trốn ở lại với đoàn chiên.

Nhờ sự hiện diện trung thành và thường trực như vậy, các cộng đoàn bổn đạo và đặc biệt các nhà ḍng chị em Mến Thánh Giá luôn có đấng cai quản trực tiếp. Sự kiện này quả đă đóng góp rất lớn vào sự h́nh thành, tổ chức và phát triển ḍng nữ đầu tiên tại Việt Nam. Đó là công tŕnh mà chính thừa sai ḍng Tên Philippe de Marini, một kẻ chống đối kịch liệt đức cha Lambert de la Motte tại Xiêm La, đă từng nh́n nhận là «phiêu lưu nguy hiểm cho những ai dấn thân vào công cuộc rất to lớn này».[5]

 

Điểm thứ hai,

là sự hợp tác chặt chẽ giữa các vị chủ chăn, linh mục và giám mục. Một ḿnh đức cha Lambert de la Motte khó mà lập nên ḍng Mến Thánh Giá tại Việt Nam. Hai cộng tác viên đầu tiên trong việc lập ḍng tại Việt Nam là thừa sai Deydier ở Đàng Ngoài và thừa sai Hainques ở Đàng Trong. Cả hai thừa sai này đều đă tham dự công đồng Juthia năm 1664 bên cạnh đức cha Lambert de la Motte nên đă được thấu hiểu tinh thần Mến Thánh Giá do đức cha đề ra và bảo vệ nhân kỳ công đồng. (Đó là chưa kể thời gian cuộc hành tŕnh từ Pháp đến Xiêm La của đức cha Lambert de la Motte và thừa sai Deydier).

Nhờ vậy, khi đến Đàng Ngoài, thừa sai này đă lưu tâm đến việc chuẩn bị chị em bước vào đời sống tu tŕ. Rồi sau khi thành lập, và nhất là từ khi ngài lên làm đại diện tông toà với đức cha De Bourges (là người đă cùng tham dự cuộc hành tŕnh với đức cha Lambert de la Motte từ Pháp sang Xiêm La), ḍng Mến Thánh Giá đă phát triển ở Đàng Ngoài một cách thật khả quan.

Ở Đàng Trong, thừa sai Hainques cũng đă chuẩn bị những chị em nhiều thiện chí trước viễn tượng lập ḍng nữ. Thừa sai Vachet đă kể : «1672, ...Vài thiếu nữ có ḷng ao ước giữ ḿnh đồng trinh đă cho viết đến đức cha Lambert de la Motte ở Xiêm La, mấy năm trước, qua cha Hainques, ư định của họ; theo đó, họ đă khám phá ra niềm vui được tận hiến cho Thiên Chúa một cách trọn hảo nhất».[6] Tiếc thay là thừa sai Hainques mất đi quá sớm ! Việc lập ḍng do chính đức cha Lambert de la Motte đảm đương, rồi trao cho thừa sai De Courtaulin tiếp tục. Nhưng thừa sai này, dù tận tâm làm việc, song kết quả không mấy được thỏa măn trong việc phát triển ḍng Mến Thánh Giá tại Đàng Trong thời thế kỷ 17.

 

&

 

Ḍng Mến Thánh Giá là ḍng mà chúng ta gọi, với ngôn ngữ ngày nay, là «ḍng địa phận». Vai tṛ giám mục là người kế vị các Thánh Tông Đồ làm chủ chăn tại chỗ rất quan hệ đến vấn đề sống c̣n của một nhà ḍng «địa phận». Lịch sử ḍng Mến Thánh Giá tại Đàng Trong thế kỷ 17 là chứng minh thật điển h́nh. V́ giám mục địa phận - đức cha Lambert de la Motte - ở tận bên Xiêm La, mọi điều hành trực tiếp tại địa phận, kể cả các nhà Mến Thánh Giá, được trao cho cha chính là thừa sai De Courtaulin.

Thừa sai này đến Xiêm La tháng 10.1672, và sang Đàng Trong tháng 6.1674. Ngài đă không có dịp tham dự vào chuyện lập ḍng Mến Thánh Giá tại Đàng Trong, kinh nghiệm có thể sẽ ích lợi cho ngài. Với tính t́nh độc đoán và cố chấp, sự hợp nhất giữa ngài và các thừa sai khác có phần bị giới hạn. Hơn nữa, v́ ngài thường có cái nh́n tiêu cực trên các linh mục bản xứ cũng như các chị em nữ tu bản xứ, nên công việc của ngài hay bị khúc mắc.

Ngày 21.10.1684, tại Xiêm La, thừa sai này viết cho cha Brisacier là bề trên Hội Thừa Sai Paris rằng : «... Con xin cha hăy tạm ngưng một chút những phán đoán của cha về tất cả những thư từ mà người ta viết cho cha và về tất cả những báo cáo mà người ta trao cho cha nói về con, cho tới khi nào sự quan pḥng của Thiên Chúa cho cha có chỗ để cha được tỏ sự thật... Chẳng ai nói cho con cả...».[7]

Mấy tháng sau đó, thừa sai De Courtaulin đă quyết định ra khỏi Hội Thừa Sai Paris.

 

Ở Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong, vào thế kỷ 17 này, thỉnh thoảng lại có cuộc bắt đạo do các quan lại địa phương điều động. Nhưng việc bắt đạo không ngăn cản sự phát triển của nhà ḍng cho bằng sự thiếu khả năng lănh đạo nơi các bậc chủ chăn.

 

Đàng Trong, sau những năm điều hành của thừa sai De Courtaulin, được hai năm may mắn với đức cha Mahot (1682-1684), để rồi măi đến năm 1691 mới có giám mục là đức cha Pérez mà lịch sử không cho là khéo léo trong việc chăn dẫn địa phận. May thay c̣n có cha chính Charles-Marin Labbé là người hết ḷng với các chị em Mến Thánh Giá. Ngài trở về Pháp năm 1697 và được Toà thánh chọn làm giám mục phó Đàng Trong. Ngài trở lại địa phận ḿnh vào năm 1708. Hiện nay, chúng tôi chưa t́m được tài liệu nói về những công tŕnh của ngài vào các năm cuối thế kỷ 17 liên quan tới ḍng Mến Thánh Giá Đàng Trong; nhưng biết rằng khi ngài qua đời năm 1723, ḍng Mến Thánh Giá tại Đàng Trong đă có tới 20 nhà tất cả.[8]

 

Đàng Ngoài, hai đức cha địa phận - Deydier và De Bourges - thường xuyên ở với đàn chiên, hết ḷng nâng đỡ các chị em Mến Thánh Giá nên ḍng phát triển cả về số lẫn về phẩm như chúng ta đă được biết qua. Năm 1693, địa phận Đông Đàng Ngoài được trao cho các tu sĩ ḍng Đa Minh người Tây Ban Nha, tỉnh ḍng Manila - Phi Luật Tân, cai quản. Nhưng ḍng Mến Thánh Giá tại địa phận này đă sống những năm cuối của thế kỷ 17 vẫn dưới sự dẫn dắt của đức cha De Bourges, v́ địa phận Đông Đàng Ngoài chưa có giám mục.

Sang thế kỷ mới, sẽ có thử thách mới : các thừa sai Đa Minh đă t́m cách đưa các chị em Mến Thánh Giá sang ḍng Ba Đa Minh. Một trong các điểm mà các thừa sai này đem ra áp dụng là bỏ luật kiêng thịt. Tài liệu lịch sử (năm 1709-1710) tường thuật rất rơ rằng :

«Trong khu vực các cha ḍng Đa Minh, có ba nhà các nữ tu mà người ta gọi là các chị em Mến Thánh Giá. Tất cả ba nhà đều được lập nên do đức cố giám mục Bêritê khi ngài đến xứ Đàng Ngoài năm 1669. Ba nhà trên nằm trong ba làng lớn, gần như tất cả đều là Công giáo, tức : Kiên Lao, Trung Linh và Bùi Chu. Các cha Đa Minh lo việc thay đổi các hiến chương của chị em và làm họ nên các «xơ» ḍng Thánh Đa Minh, theo như điều người ta báo cáo lại.

Cha Jean de Sainte-Croix đă thi hành ư đồ trên đối với nhà ḍng nằm trong làng Trung Linh là nơi ngài luôn ở thường xuyên. Cho tới bây giờ, ngài đă thay đổi luật lệ của chị em mà đức cố giám mục Bêritê đă ra cho họ. Ngài đă băi bỏ cho các chị em luật kiêng thịt là sự chẳng khó giữ ǵ trong xứ Đàng Ngoài này.

Cha Pierre de Sainte Thérèse là người kế nhiệm cha Jean de Sainte-Croix trong chức vụ bề trên các cha Đa Minh và thường xuyên cư ngụ tại làng Kẻ Bùi nói trên, ra sức thi hành cũng một sự ấy đối với các nữ tu tại nơi đó. Và để thành đạt chuyện này, ngài khuyến khích họ ăn thịt. Đôi khi, ngài c̣n gửi cả thịt thà cho họ mà nói họ có thể yên tâm ăn thịt.

Chính các nữ tu của nhà ấy đă báo cáo đến đức cha Auren (tức giám mục De Bourges). Đức cha đă nói với các chị em rằng họ phải giữ luật lệ mà đấng sáng lập, đức cha Bêritê, đă ra cho họ...».[9]

 

Lại vẫn là vấn đề chủ chăn !

 

&

 

3. Vai tṛ các giáo xứ

 

Chủ chăn, nghĩa là kẻ có đoàn chiên... để chăn.

Chúa Giêsu đă chẳng bao giờ muốn có những tín đồ rời rạc, lẻ loi, một muốn có một Giáo Hội, một tập thể, một đoàn chiên. Đoàn chiên của Chúa trong lănh vực chúng ta đang suy nghĩ là những cộng đồng Kitô hữu có tính giáo xứ trên đất Việt Nam thế kỷ 17 này. Những giáo xứ đó đă giữ một vai tṛ rất quan trọng trong lịch sử ḍng Mến Thánh Giá, giúp chị em sống đời tu tŕ của ḿnh trong đức khiết tịnh.

Đức khiết tịnh nơi các nữ tu Mến Thánh Giá là điều mới mẻ trong truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Trước tiên, phải công b́nh mà nh́n nhận rằng đạo công giáo với luân lư «nhất phu nhất phụ» đă đến như một điều «chướng tai gai mắt» cho vua chúa và quan lại xuất thân từ Nho giáo ra. Họ theo tập tục «đa thê đa thiếp», theo một thứ luân lư «trọng nam khinh nữ». Và trong luân lư Khổng Mạnh ấy, cái trinh tiết nơi phụ nữ không phải là không có giá trị, nhưng chỉ có giá trị đối với hôn nhân, nói trắng ra đối với đàn ông. Không c̣n ǵ cao cả hơn !

Và bên cạnh nền luân lư Khổng Mạnh nói trên, c̣n có truyền thống Phật giáo đề cao sự thoát tục, mà sự giữ trinh tiết là dấu kẻ xa lánh trần gian bể ải này, đi t́m một siêu thoát cho cá nhân ḿnh. Ư nghĩa đức khiết tịnh nơi nhà Phật như vậy đă là một điều cao thượng hơn so với giáo thuyết Khổng Mạnh không mấy sâu xa về lănh vực siêu h́nh.

Rồi nhóm trinh nữ Mến Thánh Giá xuất hiện, dưới con mắt dâm ô háo sắc của một vài quan lại đó đây. Các thừa sai đă từng biết e sợ những ông quan nặng tính xác thịt này. Nói về nhà ḍng lập tại Hội An, thừa sai Vachet đă ghi lại rằng : «Các chị em này c̣n bị nguy cơ phải làm vợ lẽ cho những vị tai to mặt lớn trong xứ nữa».

Từ hiện trạng đó, điều phải làm đă được làm : những nhà ḍng nữ của các chị em Mến Thánh Giá được dựng nên hoàn toàn trong các khu vực những kẻ theo đạo công giáo, thành từng nhóm nhỏ. Giáo xứ đă trở thành tường lũy bao bọc chở che các nhóm trinh nữ nhỏ mọn này. Kinh nghiệm tiêu cực mà chúng ta đă biết trong chuyện này là kinh nghiệm nhà ḍng tại Hội An do thừa sai De Courtaulin lập nên... bằng bất cứ giá nào :

«... Chẳng c̣n lại cho tôi một chỗ nào khác hơn là có thể xây cất (nhà ḍng) cạnh nhà thờ của tôi ở Hội An. Và ở đó nữa, tôi thấy trước những chế nhạo ác liệt của những Hoa kiều, các người láng giềng của tôi, là những kẻ diễu cợt mọi chuyện, cùng các chế nhạo của những dân Đàng Trong không có đạo mà nhà của tôi nằm ngay giữa họ. Tôi cho qua tất cả mọi chuyện và phải vâng lời đức cha thánh thiện của tôi hơn là tất cả thế gian này...».

Môi trường xă hội chung quanh là một yếu tố quan trọng trong việc thiết lập, tổ chức sinh hoạt và phát triển cho một nhà ḍng nữ.

Xă hội Việt Nam vào thế kỷ 17 c̣n là một xă hội nông dân và là một tổng hợp những làng những xóm. Mỗi làng có tổ chức, có tập tục, có việc thờ cúng... khá độc lập. Mỗi người dân trong đó phải theo lối sống truyền thống của làng ḿnh. Nhưng trong truyền thống của làng, có nhiều thứ mà các thừa sai công giáo coi như mê tín dị đoan, cấm các tân ṭng tham dự. Do đó, thật khó mà tưởng tượng nổi một nhà ḍng nữ có thể hiện diện và sinh hoạt một cách yên lành nơi một làng xóm cổ truyền của Việt Nam mà nơi đó c̣n có rất ít người theo đạo công giáo.

Những nhà ḍng Mến Thánh Giá ở thế kỷ 17 đều được đặt trong các chỗ có nhiều người theo đạo, trừ ra một trường hợp duy nhất và h́nh như ngắn hạn, là nhà ḍng tại Hội An mà thôi.

V́ người công giáo thời đó không được hưởng tự do tín ngưỡng và v́ đời sống tu tŕ cho giới nữ kiểu Mến Thánh Giá c̣n mới lạ trong xă hội Việt Nam, sự việc trên là cần thiết tuy không tạo thuận tiện cho ơn gọi rao giảng ngoài xă hội của các chị em.

Hiện diện trong các giáo xứ, các nữ tu ngoài công việc riêng trong nhà ḍng, c̣n tích cực đến giúp đỡ đời sống của các bổn đạo : «Nhất là các chị em chịu khó đi cầu nguyện trong những nhà có người ốm đau và giúp đỡ họ những sự cần thiết về mặt tinh thần và vật chất»[10]. «Những chị em đă lớn tuổi đi thăm viếng kẻ bệnh hoạn tại nơi chị em ở, an ủi họ, giúp đỡ họ sinh th́ và đọc kinh cầu nguyện với các tín hữu để xin Thiên Chúa ơn chết lành hay ơn khỏi bệnh tật mà các chị em rất thường đạt được»[11].

Trái lại tín hữu trong giáo xứ yêu mến các nữ tu, bảo vệ họ trong những cơn hoạn nạn bắt bớ và trợ giúp họ về vật chất nữa, v́ đời sống các nữ tu xem ra rất nghèo nàn. Tuy nhiên, giữa những tín hữu không thể nào hoàn toàn tinh tuyền hết được, đă có những tín hữu xấu bụng đi tố cáo nhà ḍng các chị em với quan lại, khiến nhà ḍng phải chịu cảnh cơ cực, tan nát, điển h́nh là nhà An Chỉ tại Đàng Trong năm 1678.

Việc nhà ḍng Mến Thánh Giá hồi thế kỷ 17 nằm trong khu vực các người có đạo là do hoàn cảnh xă hội đương thời bắt buộc. Bằng không, vị trí của nhà ḍng có lẽ phải xét sao cho thuận tiện những công tác riêng mà nữ tu Mến Thánh Giá phải thực hiện, theo ư định của đấng sáng lập.

 

&

 

4. Mến Thánh Giá trong xă hội Việt Nam

 

Nền tảng của xă hội Việt Nam là gia đ́nh. Trong gia đ́nh, vai tṛ của phụ nữ không thể thay thế được, đối với chồng cũng như đối với con cái. Việc giáo dục trẻ nữ nơi cha mẹ Việt Nam thường nhắm vào mục đích là tạo nên những phụ nữ mà mai sau sẽ là «dâu hiền, vợ thảo». Nghĩa là, người phụ nữ trong xă hội Việt Nam cổ truyền chỉ được xă hội đón nhận trong khung cảnh gia đ́nh, như là vợ và như là mẹ. Chỗ đứng của phụ nữ, nói được, là hoàn toàn lệ thuộc vào đàn ông. Mực thước khắc nghiệt và hạn hẹp đó đă do Nho giáo quy định từ lâu rồi : «Tại gia ṭng phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử».

Trong những lời dạy bảo của Gia Huấn Ca thời đó, (tương truyền là do Nguyễn Trăi (1380-1442) soạn ra), cũng chỉ là : «Vá may giữ nếp đàn bà», hay, «Gái trong kim chỉ, trai ngoài bút nghiên».

H́nh ảnh người phụ nữ Việt Nam, theo chứng tá của văn chương truyền khẩu, cho ta thấy luôn luôn là h́nh ảnh :

- người vợ :

«Nửa đêm ân ái cùng chồng,

Nửa đêm về sáng gánh gồng ra đi».

 - và người mẹ :

«Miệng ru mắt nhỏ hai hàng,

Nuôi con càng lớn mẹ càng lo thêm».

Văn hoá Khổng Mạnh đă tạo nên những phụ nữ Việt Nam «vợ» và «mẹ» một cách tuyệt vời, nhưng không đề nghị ra một khuôn mẫu phụ nữ lư tưởng nào khác.

 

Qua đó, chúng ta nhớ lại là khuôn mẫu phụ nữ đă được thành h́nh như thế trong xă hội Việt Nam. Bởi vậy, h́nh ảnh người phụ nữ công giáo Mến Thánh Giá thật c̣n quá mới mẻ và xa lạ : «đàn bà» mà không làm vợ, không làm mẹ, lại phải ra khỏi cửa khỏi nhà hầu đi phục vụ trẻ em và phụ nữ bên ngoài nữa.

Cái mới mẻ có tính chất cách mạng văn hóa nơi chị em Mến Thánh Giá là sự giải thoát khỏi lệ «xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử». Nhờ đó, cuộc đời họ t́m được một chiều kích rộng răi hơn, tích cực hơn và phong phú hơn cho xă hội. Đương nhiên, «cái ṭng» và «cái gia đ́nh» không mất đi nơi chị em nữ tu, nhưng sẽ mang một ư nghĩa mới, bao la hơn và siêu nhiên hơn so với văn hoá Nho giáo. Mến Thánh Giá đề ra một kiểu phụ nữ mới, không «thành phụ nữ» trong khuôn khổ gia đ́nh nhưng trong khuôn khổ xă hội. Phải chăng đó là một điều tốt đẹp được thêm vào trong xă hội Việt Nam và cho phụ nữ Việt Nam ?

Đương nhiên, chúng ta không quên truyền thống Phật giáo tại Việt Nam. Phật giáo đă đưa ra khuôn mẫu «người phụ nữ xuất gia», đi tu hành trong chùa chiền, chuyên kinh kệ. Việc từ thiện trực tiếp ngoài xă hội có lẽ chỉ là thứ yếu nơi những phụ nữ ở chùa này. (Cũng tạm so sánh được như các nữ tu công giáo sống trong tu viện vậy). Cái mới mẻ nơi nữ tu Mến Thánh Giá không những là trong quan niệm «ơn cứu rỗi» liên quan tới tha nhân theo giáo thuyết Phúc Âm (không có tính cách cá nhân như Phật giáo), mà nhất là công việc từ thiện ngay trong ḷng xă hội.

Lư thuyết Khổng Mạnh về vấn đề từ thiện xă hội tương đối c̣n tiêu cực : «Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân». Gia Huấn Ca khuyên «thương người như thể thương thân», nhưng c̣n giới hạn vào đôi ba việc «bố thí» : «Người ta phải bước khó khăn đến nhà». Cái từ thiện theo truyền thống xa xưa ở Việt Nam là «tiếp đón người hoạn nạn» hơn là «đi đến với người hoạn nạn», theo như kiểu Chúa Giêsu đến với nhân loại.

Tuy nhiên, vào giai đoạn khởi đầu ở thế kỷ 17 này, cái mới mẻ hay tốt đẹp đó (của Kitô giáo mà nữ tu Mến Thánh Giá là sứ giả) chỉ như một hạt giống vừa gieo, chưa thực sự đâm rễ sâu cũng chưa thực sự thành cây thành cành. Phải c̣n chờ thời gian dài sau này, cây mới lớn, đời mới rợp bóng mát.

Riêng về vai tṛ của nữ tu Mến Thánh Giá trong việc xă hội, nhất là cho trẻ em và phụ nữ không phân biệt tôn giáo, chúng ta chưa thấy được thể hiện trong giai đoạn thế kỷ 17 này. Vào thời kỳ đầu tiên ấy, ḍng mới thành lập và c̣n lo tổ chức, vấn đề củng cố nội bộ đương nhiên là chiếm chỗ quan trọng hàng đầu. Sau nữa, v́ mới lạ trong xă hội, các nhà Mến Thánh Giá không thể không cẩn thận, nếu không dám nói là trốn tránh những con mắt xoi mói, phá hoại. Hoàn cảnh chưa cho phép các nữ tu dấn thân vào xă hội một cách công khai, đặc biệt trong việc từ thiện phổ quát. Hơn nữa, lúc mà xă hội Việt Nam c̣n nặng quan niệm «một giọt máu đào hơn ao nước lă» hoặc «một kẻ làm quan, cả họ được nhờ», ngoài gia đ́nh ḿnh ra không c̣n ai đáng kể nữa, th́ những việc từ thiện giúp đỡ tha nhân đại chúng lại chỉ sinh nên những thách thức nguy hiểm cho các nữ tu mà thôi.

Xă hội Việt Nam thế kỷ 17 về hành chánh là một xă hội «vua chúa cai trị, quan lại điều hành». Vua hay chúa th́ ở xa, quan lại th́ có người tốt người xấu. Dân thứ th́ chỉ có những ai được lộc vua hay những ai có tiền cho vay ăn lời như giới địa chủ th́ giầu có, sung túc; c̣n tuyệt đại đa số th́ chân lấm tay bùn, nghèo nàn đến độ đôi khi phải bán con bán cái. Giới thiểu số những kẻ theo đạo công giáo th́ tùy cơ mà ứng biến, theo thời thế và theo thái độ vua quan.

Riêng về các nhà ḍng Mến Thánh Giá, chỗ nào được ông quan nhân từ th́ yên ổn; chỗ nào gặp ông quan tham của ham tiền hay tính t́nh ác độc th́ phải chịu cảnh bắt bớ, cướp bóc, khổ sở... một cách hợp pháp. Lịch sử 30 năm đầu tiên của ḍng Mến Thánh Giá tại Việt Nam, một lần nữa, lại cho thấy Việt Nam là một nước mà «phép vua, thua lệ làng».

Cái tuyệt vời và là cái sẽ xây dựng tương lai ḍng Mến Thánh Giá tại Việt Nam vẫn là cái ǵ đó đă phù hợp trong ḷng sâu con người phụ nữ Việt Nam :

«Một bầy các bà góa và thiếu nữ đă khởi sự tuân giữ những quy luật mà đức cha Bêritê đă dựng nên cho họ để bắt đầu một Tu Hội dưới ba lời khấn đơn mà họ sẽ tuyên thệ. Và v́ sợ bị kẻ ngoại khám phá ra, các chị em đă chia nhau ra làm hai nhà...»

«Có một số khá đông các quả phụ và thiếu nữ; những người này (dù) chẳng hề biết làm nữ tu là thể nào, đă từ chối chuyện hôn nhân và từ nhiều nơi khác nhau đă tụ họp lại sống chung cùng nhau để bảo tồn ân sủng Kitô giáo và chuyên chú vào việc cầu nguyện cùng các công việc từ thiện...» (Jacques de Bourges).[12]

 

&

 

Từ ngày chính thức được thành lập cho đến hết thế kỷ 17, ḍng Mến Thánh Giá được 30 năm. Ḍng vẫn c̣n nhỏ mọn, mất hút trong những xóm làng Việt Nam. Nhưng tựa như một hạt cải, «khi gieo xuống đất, nó nhỏ tí, thua mọi thứ hạt giống trên đất; nhưng đă gieo xuống rồi, th́ nó mọc mà thành to lớn hơn mọi thứ rau cỏ, trổ những cành lớn, đến đỗi chim trời có thể nương náu dưới bóng nó» (Marcô 4, 31-32).

 

./.

 

<<<<< về trang đầu tiên <<<<<

 



[1] Đây không phải là lần đầu tiên Toà thánh Roma phong «đại diện tông toà», v́ từ năm 1637, linh mục Mathieu de Castro người Ấn Độ cũng đă được phong chức vị này rồi.

[2] Xem «Chương một», chú thích 14.

[3] Nhóm Nghiên cứu Linh đạo Mến Thánh Giá tại thành phố Hồ Chí Minh đă cố gắng thực hiện một công tŕnh trong chiều hướng cần thiết này : cuốn «Đức cha...» (mới tái bản dưới nhan đề : «Tiểu sử - Bút tích Đức Cha Phêrô-Maria Lambert de la Motte», 1998).

[4] Xem Jacques de Bourges : «Relation du Voyage de Monseigneur l’Evêque de Béryte...». Bản dịch Việt ngữ «Kư sự cuộc hành tŕnh...» (Tp Hồ Chí Minh, 8.1996).

[5] Xem Chương hai.

[6] Xem Chương bốn.

[7] Tài liệu viết tay : AMEP. 735, 495.

[8] A.Launay : «Mémorial de la Société des Missions Etrangères», 2è partie, Paris 1916, trang 342.

[9] «Tonkin. Doc.I», trang 462-463.

[10] Thư của thừa sai Guisain gửi mẹ ngài, ngày 6.11.1701, đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 461.

[11] Thư của thừa sai Guisain gửi các anh chị em họ của ngài, ngày 1.12.1709, đăng trong : «Tonkin. Doc.I», trang 462.

[12] Xem Chương ba.

 

./.

 

<<<<< về trang đầu tiên <<<<<