Những tác giả thế kỷ 17 có bài viết được trích dịch trong quyển sách này

 

Tài liệu :

Launay (Adrien) : Mémorial de la Société des Missions Étrangères, 2è partie, Paris 1916.

Marillier (André) : Nos pères dans la foi, tome 2, Églises d’Asie - Paris 1995.

Montezon et Estève : Mission de la Cochinchine et du Tonkin, C.Douniol - Paris 1858.

 

 

BOURGES (Jacques de) : có sáu anh em và một chị. Tiến sĩ  thần học. Theo đức cha Lambert de la Motte đến Xiêm La năm 1662. Nhân dịp được đức cha sai về lại Âu Châu (1663), ngài cho xuất bản cuốn "Relation du voyage de Monseigneur de Béryte..." tại Paris (Denis Bechet 1666). (Sách này của ngài được tái bản lần thứ nhất năm 1668, rồi lần thứ hai năm 1683 (Paris-Angot); dịch ra tiếng Hoà Lan lần đầu năm 1669 (Amsterdam), lần thứ hai năm 1683; ra tiếng Đức năm 1671 (Leipzig); bản dịch Việt ngữ xuất bản tại tp Hồ Chí Minh năm 1996). - Đến Đàng Ngoài cùng đức cha Lambert de la Motte năm 1669. Tên Việt Nam thường gọi của ngài là : Gia. Trở thành giám mục Auren năm 1679. Bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài năm 1713, ngài sang Xiêm La và qua đời tại Nhà Trường ở Juthia ngày 9.8.1714, thọ  81 tuổi.

 

COURTAULIN (Jean de Maguelonne de) : đến Đàng Trong năm 1674. Tính t́nh của ngài cực đoan, rất ít hoặc chẳng chịu nghe lời bàn của ai. Ngài đă cho xây một nhà thờ lớn và quy tụ mọi bổn đạo lại, điều đó đă suưt gây ra việc bắt đạo trong hoàn cảnh lúc đó. Năm 1685, ngài rời bỏ công việc rao giảng và Hội Thừa Sai Paris. - Về các chị em Mến Thánh Giá cũng như về các linh mục Việt Nam thời đó, ngài đă có những hành động và nhận xét khá hồ đồ, thiếu sự phán đoán quân b́nh. Việc ngài cho làm nhà ḍng tại Hội An như chính ngài tường thuật lại cũng đủ cho thấy sự thiếu dè dặt khôn khéo nơi ngài.

 

DEYDIER (François) : ăn mặc như thuỷ thủ, ngài tới Đàng Ngoài năm 1666. Ngài là người đầu tiên quy tụ các phụ nữ Việt Nam nên cộng đoàn có tính cách ḍng tu, bước chuẩn bị cho việc thành lập ḍng Mến Thánh Giá năm 1670 sau công đồng Phố Hiến. Tên Việt Nam của ngài : Phan. - Ngày 21.12.1682, lănh chức giám mục tại Hưng Yên, hiệu toà Ascalon. Ngài là người có công rất nhiều trong việc đào tạo các linh mục và nữ tu Việt Nam. Qua đời tại Phố Hiến ngày 1.7.1693, 59 tuổi.

 

GAYME (Claude) : đến Xiêm La vào năm 1674 và chết mất tích v́ tầu bị đắm gần mũi Hảo Vọng (Phi Châu) vào năm 1681.

 

GUIART (Claude) : được sai sang Đàng Trong năm 1671, tham dự công đồng Hội An (1672), qua đời tại Bầu Nghè (Bầu Goc, Quảng Ngăi) ngày 24.5.1673.

 

INNÔCENTÊ XI (Giáo hoàng) : Benoît Odescalchi, sinh năm 1611, được bầu lên làm giáo hoàng năm 1676, qua đời năm 1689.

 

LAMBERT DE LA MOTTE (Pierre) : cùng với đức cha Pallu, người lập thành Hội Thừa Sai Paris. Ngài lập ḍng nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Ngoài năm 1670, tại Đàng Trong đầu năm 1672, tại Xiêm La giữa năm 1672. Qua đời tại Juthia ngày 15.6.1679. Tính t́nh ngài khắc khổ, nhưng khả năng lănh đạo rất cao.

 

LANEAU (Louis) : sinh năm 1637 tại Pháp. Cùng với đức cha Pallu đến Xiêm La năm 1664. Giám đốc đầu tiên của Nhà Trường Thánh Giuse tại Juthia. Giỏi tiếng Xiêm La cũng như tiếng phạn nhà Phật. (Bản sao hai lá thư chữ quốc ngữ của ngài c̣n lưu giữ được tại AMEP., 879, 861 và 855). - Năm 1673, ngài trở thành giám mục Métellopolis. Năm 1682, ngài sang thăm Đàng Trong (từ Nha-Trang đến Hội An), tấn phong giám mục cho thừa sai Mahot và hội công đồng tại Hội An. Trong thời gian bị cầm tù (1688), ngài viết cuốn "De  Deificatione justorum" (xuất bản lần đầu năm 1887, bản dịch Pháp ngữ xuất bản năm 1987). Qua đời tại Juthia ngày 16.3.1696. Tính t́nh ngài hiền lành, khiêm nhượng và rất thông thái. Một tác phẩm do ngài viết bằng tiếng Xiêm La đă được dịch ra Pháp ngữ và được xuất bản : "Rencontre avec un sage bouddhiste" (Solem - Cerf 1998).

 

LANGLOIS (Pierre) : giám đốc Nhà Trường tại Juthia, năm 1672. Ngài rất thông thạo tiếng Việt và chữ quốc ngữ ngay từ thời gian c̣n lo việc dạy các chủng sinh người Việt tại Xiêm La (xem AMEP., 860, 14. Đăng trong A.Launay : "Histoire de la Mission de Siam. Documents historiques, tome I", (Téqui-Paris 1920), trang 27-28). - Sang Đàng Trong năm 1680, là cha chính địa phận. Chết trong tù tại Huế ngày 30.7.1700.

 

MAHOT (Guillaume) : đến Đàng Trong cùng với đức cha Lambert de la Motte và thừa sai Vachet năm 1671. Được Toà Thánh chọn làm giám quản tông toà địa phận Đàng Trong, hiệu toà Bide, kế vị đức cha Lambert de la Motte (qua đời năm 1679). Lễ tấn phong được cử hành tại Hội An, ngày 4.10.1682, dưới sự chủ tọa của đức cha Laneau từ Xiêm La qua. Sau đó, cùng với đức cha Laneau, ngài hội công đồng Hội An (lần thứ hai);  rồi đi thăm viếng mục vụ địa phận, tụ họp lại vào cộng đoàn các chị em Mến Thánh Giá đă bị phân tán v́ cuộc bách đạo. Ngài qua đời tại Hội An (Quảng Nam) đầu tháng 6.1684. Trên 2.000 giáo hữu đă tham dự đám táng của ngài.

 

MARINI (Jean Philippe de) : tu sĩ ḍng Tên, người Ư, ở Đàng Ngoài từ 1647 đến 1658. Trở về Âu Châu ngài cho xuất bản quyển sách mà chúng tôi trích dịch : "Delle missioni de’ padri della compagnia di Giesu nella provincia del Giappone, e particolarmente di quella di Tunkino", (Rome 1663). Ngài đến Đàng Ngoài lần thứ hai ngày 13.2.1671 và ra đi ngày 30.8.1673.

 

MARTINEAU (Bernard) : đến Xiêm La, ngài ban đầu dạy các chủng sinh tại Nhà Trường, sau ra làm việc tông đồ bên ngoài. Ngài viết nhiều lá thư đặc sắc cho biết về t́nh trạng xứ Xiêm La thời nổi loạn năm 1688. Trong chuyến đi công tác sang Trung Hoa, ngài chết ở vùng biển Hải Nam, ngày 25.8.1695. Roma, v́ chưa hay tin, đă phong ngài làm giám mục, hiệu toà Sabule, ngày 15.1.1697, với quyền kế vị đức cha Laneau.

 

PALLU (François) : nhân vật số một của Hội Thừa Sai Paris. Tính t́nh hoà giải, lịch thiệp, khả năng ngoại giao rất rộng. Qua đời ngày 29.10.1684 tại Phú Kiến (Trung Hoa). Hài cốt ngài hiện an nghỉ tại Chủng Viện Hội Thừa Sai Paris, số 128  đường Rue du Bac.

 

RHODES (Alexandre de) : (1593-1660) tu sĩ ḍng Tên, người Pháp miền Avignon, tác giả đầu tiên cho xuất bản sách viết bằng chữ quốc ngữ : "Phép giảng tám ngày" và "Tự điển Việt - La - Bồ" (năm 1651 tại Roma). Qua đời tại Ispaham, Ba Tư.

 

TISSANIER (Joseph) : tu sĩ ḍng Tên, người Pháp, ở Đàng Ngoài năm 1658-1663, xuất bản cuốn "Relation du P. Joseph Tissanier, de la Compagnie de Iesus, depuis la France jusqu’au Royaume de Tunquin...", (Edme Martin - Paris 1663).

 

VACHET (Bénigne) : tháp tùng đức cha Lambert de la Motte nhân chuyến đi Đàng Trong lần đầu (1671-1672). Năm 1673, được đức cha sai trở lại Đàng Trong để đem quà biếu chúa Hiền, ngài đă ở lại đây. Làm thông dịch viên cho đức cha suốt kỳ thăm viếng Đàng Trong lần thứ hai của đức cha (1675-1676). - Sau khi tham dự công đồng Hội An lần thứ hai vào năm 1682, ngài trở lại Xiêm La, được vua Phranarai cử vào những phái đoàn người Xiêm đi Pháp : 1684 và 1686. - Từ năm 1689 đến 1691, ngài đi Ba Tư. Sau đó, ngài về sống tại chủng viện Hội Thừa Sai tại Paris cho đến khi qua đời, ngày 19.1.1720. - Suốt thời gian dài sống tại Paris, ngài đă viết rất nhiều hồi kư về các việc rao giảng Tin Mừng của Hội Thừa Sai Paris. Lời văn của ngài hoa mỹ, trau chuốt và một hai lúc có hơi cường điệu. Đọc bài của ngài, đôi khi phải cẩn thận về một vài chi tiết có tính lịch sử.

 

./.

 

<<<<< về trang đầu tiên <<<<<